CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NHTM 1. Khái niệm, đặc điểm hộ kinh doanh a. Khái niệm hộ kinh doanh Trước năm 1988, hệ thống Ngân hàng Việt Nam chỉ tập trung cho vay thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, chưa cho phép các thành phần kinh tế khách phát triển như hiện nay.
Chỉ từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ chính trị, việc ban hành luật đất đai năm 1993 cùng với sự đổi mới về cơ cấu tổ chức, thay đổi đối tượng khách hàng của hệ thống Ngân hàng, tỷ trọng cho vay các thành phần kinh tế khác nhau bắt đầu thay đổi trong đó cho vay hộ kinh doanh tăng dần lên và hộ kinh doanh đã giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, khái niệm về hộ kinh doanh vẫn chưa được định nghĩa cụ thể, hầu hết đều mặc nhiên thừa nhận hộ kinh doanh là hộ gia đình hay kinh tế hộ. Theo Điều 49, Nghị định 43/2010/NĐ-CP, hộ kinh doanh được định nghĩa như sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Đặc điểm hộ kinh doanh Từ định nghĩa trên cho thấy HKD có những đặc điểm sau: Luan van 9 Chủ HKD có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình: đối với HKD, pháp luật không quy định các điều kiện cụ thể về quy định thành lập, bất kỳ một các nhân là công dân Việt Nam, có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và hành vi dân sự đều có thể đứng ra kinh doanh, ngoài ra một hộ gia đình hoặc một cá nhân đại diện cho gia đình cũng có thể thành lập HKD.
Sử dụng không quá 10 lao động: Quy mô kinh doanh của hộ gia đình thường không lớn do đó hộ kinh doanh đa phần tập trung ở các nghành nghề nhỏ lẻ, yêu cầu về trang thiết bị kỹ thuật thấp, vốn đầu tư ban đầu không lớn, do đó nhu cầu về lao động chỉ ở mức vừa phải. Không có tư cách pháp nhân, không có con dấu riêng: HKD do một cá nhân hoặc đại diện của hộ gia đình đứng ra kinh doanh, hình thức kinh doanh đơn giản và quy mô nhỏ lẻ nên HKD không có tư cách pháp nhân. Chịu trách nhiệm vô hạn trong hoạt động kinh doanh: Trong hoạt động kinh doanh của mình, HKD chịu trách nhiệm dân sự về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hoạt động kinh doanh là vô hạn bằng vốn kinh doanh và tài sản riêng của chính chủ sỡ hữu. Hộ kinh doanh không phải là doanh nghiệp nên không áp dụng các quy định của pháp luật về luật phá sản doanh nghiệp.
Năng lực, trình độ, điều hành, thông tin trong hoạt động kinh doanh hạn chế: Đặc điểm của HKD là do cá nhân hoặc hộ gia đình đứng ra điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các HKD chủ yếu là hộ gia đình kinh doanh nhỏ lẻ, ít được đào tạo và cập nhật các thông tin, vì vậy trình độ và năng lực rất hạn chế. Khái niệm, đặc điểm cho vay hộ kinh doanh a. Khái niệm cho vay hộ kinh doanh - Khái niệm về cho vay: Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa các ngân hàng với các Luan van 10 cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội và các tổ chức tín dụng khác theo nguyên tắc có hoàn trả. Theo Luật các NHTM số 47/2010/QH12 định nghĩa: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
- Khái niệm về cho vay hộ kinh doanh: Như vậy, căn cứ trên các khái niệm, định nghĩa về tín dụng nêu trên thì cho vay HKD của NHTM là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay là NHTM giao hoặc cam kết giao cho HKD một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm cho vay hộ kinh doanh - Quy mô của khoản vay thường nhỏ lẻ: Quy mô kinh doanh của hộ gia đình thường không lớn do đó hộ kinh doanh đa phần tập trung ở các nghành nghề nhỏ lẻ, yêu cầu về trang thiết bị kỹ thuật thấp, vốn đầu tư ban đầu không lớn, do đó nhu cầu vay vốn của các hộ kinh doanh chỉ ở mức trung bình, nhỏ, đáp ứng đủ nhu cầu về buôn bán, kinh doanh nhỏ lẻ hoặc nuôi trồng, chăn nuôi, sản xuất ở quy mô vừa và nhỏ. - Số lượng các món vay nhiều: Hiện nay, số lượng món vay của hộ kinh doanh đang dần chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số món vay của NHTM. Với nền kinh tế thị trường, Việt Nam đang dần phát triển mở ra rất nhiều loại hình kinh doanh, tạo điều kiện cho các hộ gia đình phát triển kinh doanh, theo đó nhu cầu vay vốn đặc biệt là các khoản tín dụng trung bình và nhỏ tăng lên rất nhiều đã dẫn đến sự tăng mạnh về số lượng các món vay của hộ kinh doanh tại các NHTM trong nước.
- Mức độ phân tán các khoản vay rất rộng: Với sự đa dạng các loại hình Luan van 11 kinh doanh của hộ kinh doanh trải rộng rất nhiều lĩnh vực từ nông nghiệp, nông thôn đến kinh doanh buôn bán nhỏ…, địa bàn hoạt động của hộ kinh doanh hầu như có mặt ở khắp các vùng miền từ nông thôn cho đến thành thị, nơi nào có thể sản xuất kinh doanh với các loại hàng hoá, sản phẩm hoặc kinh doanh thì nơi đó đều có thể cho vay hộ kinh doanh. - Thủ tục của khoản vay đơn giản, gọn nhẹ: Tâm lý chung của hộ kinh doanh thường ngại các thủ tục rườm rà, thời gian làm thủ tục kéo dài, đồng thời phải tiết kiệm chi phí, do vậy yêu cầu về các thủ tục trong việc vay vốn của ngân hàng cần phải đơn giản, tiết giảm các yêu cầu về giấy tờ tối giản nhất, tránh để hộ kinh doanh đi lại nhiều lần gây lãng phí thời gian, tiền bạc của hộ kinh doanh và NHTM. - Việc kiểm tra, giám sát khoản vay gặp nhiều khó khăn: Với đặc thù là kinh doanh nhỏ lẻ, các loại hình kinh doanh rất đa dạng, phức tạp, phân bố rộng khắp địa phương đồng thời sổ sách hoạt động của hộ kinh doanh không được thực hiện nghiêm túc hoặc không có; việc kiểm tra giám sát khoản vay trước, trong và sau khi cho vay gặp rất nhiều khó khăn đối với CBTD trong công tác thẩm định, theo dõi tình hình hoạt động kinh doanh cũng như những biến động bất thường của hộ kinh doanh. - Chi phí tổ chức cho vay hộ kinh doanh cao: Do diều kiện quy mô khoản vay của hộ kinh doanh khá nhỏ so với các khoản vay doanh nghiệp, trong khi đó chi phí cho các hoạt động kiểm tra, giám sát hộ kinh doanh không ít hơn là bao, việc thu thập thông tin về hộ kinh doanh cũng gặp rất nhiều khó khăn do tính chất phân tán, đa dạng của hộ kinh doanh dẫn đến chi phí cho vay tính trên một đồng vốn đối với hộ kinh doanh khá cao.
Cho vay HKD của NHTM là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay là NHTM giao hoặc cam kết giao cho HKD một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với Luan van 12 nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh a. Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh Có rất nhiều cách quan niệm khác nhau về rủi ro tuỳ thuộc vào chủ thể và hoạt động của chủ thể đó trong mối quan hệ với các yếu tố khác của môi trường. Tuy nhiên, các quan niệm đó đều thống nhất một nội dung coi rủi ro là sự bất trắc không mong đợi, gây ra thiệt hại và có thể đo lường được.
Đối với vấn đề rủi ro tín dụng ngân hàng, cũng đã có rất nhiều khái niệm đưa ra, cụ thể như sau: - Theo khoản 1 điều 2 quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam: Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.Lange (2000): Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các nguồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ cả về số lượng và về thời hạn.Koch (2009): Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn. Như vậy, rủi ro tín dụng nói chung và rủi ro tín dụng trong cho vay HKD nói riêng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ vay không đúng hạn cho ngân hàng, cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi. Hiểu một cách khác, rủi ro tín dụng là rủi ro không thu hồi được nợ khi đến hạn do người vay đã không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng, Luan van 13 không tuân thủ theo nguyên tắc hoàn trả khi đáo hạn. Từ những khái niệm trên, tác giả đưa ra quan điểm của mình về rủi tín dụng trong cho vay HKD như sau: “Rủi ro tín dụng trong cho vay HKD là sự không đảm bảo về khả năng hoàn trả khoản tín dụng được cấp của HKD khi đến hạn tín dụng”.
Đặc điểm rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh - RRTD trong cho vay hộ kinh doanh mang tính tất yếu: Tính tất yếu là một đặc điểm cơ bản của RRTD do RRTD luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng, việc cho vay HKD cũng không nằm ngoài đặc điểm này.