Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý rủi ro trong cho vay khách hàng DN. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NH TMCP Công thương Thái Nguyên. Chương 4: Giải pháp và kiến nghị để quản lý tốt rủi ro trong cho vay khách hàng DN tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 1.Những vấn đề cơ bản về rủi ro trong cho vay khách hàng doanh nghiệp 1. Cho vay khách hàng doanh nghiệp 1. Khái niệm cho vay của ngân hàng thương mại Cho vay là một hình thức cấp tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Tín dụng xuất phát từ chữ la tinh là credo có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm (Hồ Diệu, 2002).
Theo giáo trình “nghiệp vụ ngân hàng thương mại” của tác giả Phan Thị Cúc (2008), xét trên gốc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay. Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng Theo Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam năm 2010 “ Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Luật này còn định nghĩa “Tổ chức tín dụng là loại hình DN được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Tóm lại, cho vay ngân hàng là quan hệ cho vay bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay. Khái niệm cho vay khách hàng DN Khi các DN có nhu cầu vốn hợp lý và đảm bảo được các yêu cầu như:Có năng lực Pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của Pháp luật, có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết, có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống, có tình hình tài chính lành mạnh, sản xuất kinh doanh có lãi, trong trường hợp lỗ thì phải được cơ quan có thẩm quyền xác nhận cấp bù lỗ, khách hàng phải mua bảo hiểm tài sản là đối tượng vay vốn, mà theo pháp luật Việt Nam quy định phải mua bảo hiểm, mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp,có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu quả hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi kèm theo phương án trả nợ khả thi phù hợp với quy định của pháp luật. Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ Ngân hàng. Thì DN đó sẽ được ngân hàng đáp ứng với nhiều hình thức vay vốn để lựa chọn, chi phí vốn hợp lý, thủ tục vay vốn nhanh chóng thuận tiện, được tư vấn, hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo và chuyên nghiệp.
Đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thường xuyên của khách hàng trong cả một chu kỳ kinh doanh, từ đó giúp ổn định nguồn tài chính và tăng tính chủ động trong việc lập kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng… Như vậy cho vay khách hàng DN là quan hệ giao dịch giữa NHTM với các DN có nhu cầu về vốn hợp lý, trong đó ngân hàng chuyển giao tiền hoặc tài sản cho DN sử dụng trong một thời gian nhất định khi các DN đáp ứng đủ các điều kiện của hoạt động cho vay mà ngân hàng đưa ra ( Dương Thị Bích Điệp, 2012). Rủi ro trong cho vay của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro cho vay của ngân hàng thương mại Rủi ro cho vay là sự xuất hiện những biến cố không bình thường do chủ quan hay khách quan khiến cho khách hàng không hoàn trả được nợ cho ngân hàng cả gốc và lãi khi đến hạn (Nguyễn Văn Tiến, 2003). Trước đây, với cơ chế kế hoạch tập trung bao cấp ít có tổ chức kinh doanh nào để ý đến rủi ro trong hoạt động mà họ chỉ thực hiện một cách máy móc theo quyết định, chỉ thị, chỉ tiêu của cấp trên giao, bởi vì lời hay lỗ họ vẫn được hưởng một mức hưởng thụ như nhau đây là một thiệt hại lớn cho nền kinh tế đất nước.
Trong nền kinh tế thị trường tự do thời mở cửa, tự do cạnh tranh như hiện nay, tất cả mọi thành phần kinh tế chú trọng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình, luôn tìm cách nâng cao lợi nhuận để đứng vững trên thị trường. Chính vì lẽ đó mà rủi ro luôn được quan tâm xem xét và quản lý một cách đặc biệt để nhằm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 khắc phục hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh của mình nhằm nâng cao hiệu quả và lợi nhuận. Đặc biệt, hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường hiện nay đã phát sinh nhiều rủi ro. Bởi vì, Ngân hàng là một DN kinh doanh trên linh vực tiền tệ, luôn phụ thuộc vào khách hàng, rủi ro của khách hàng vay vốn cung kéo theo rủi ro của ngân hàng.Đặc điểm của rủi ro cho vay của ngân hàng thương mại Nghiên cứu những đặc điểm cơ bản của rủi ro cho vay có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xác định, đo lường, quản lý và kiểm soát nó.
Rủi ro tín dụng có những đặc điểm sau: - Rủi ro cho vay có tính tất yếu tức luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động của NHTM. Tính tất yếu có ý nghĩa là ngân hàng có thể phòng ngừa tốt để hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro tín dụng chứ không thể loại bỏ nó được. - Rủi ro cho vay mang tính gián tiếp. Bởi vì ngân nàng là một định chế tài chính trung gian, có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường, nó là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay.
Bởi vậy, khi người vay gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh như: hỏa hoạn, lủ lụt, chiến tranh, sự đổ vỡ của đối tác, khách hàng tẩy chay sản phẩm của công ty…dẫn đến thua lỗ, phá sản thì sẽ tác động gián tiếp rủi ro đó cho NHTM, cho nên nói rủi ro cho vay mang tính chất gián tiếp. - Rủi ro cho vay có tính chất đa dạng và phức tạp. Tính đa dạng và phức tạp của rủi ro cho vay có thể chia làm nhiều loại nhu: rủi ro về đạo đức; rủi ro cơ chế; rủi ro công tác kiểm tra, kiểm soát… 1. Nguyên nhân phát sinh rủi ro cho vay khách hàng doanh nghiệp Nguyên nhân chủ quan a.
Nguyên nhân từ phía Ngân hàng: Ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc biệt đi vay với lãi suất thấp và sau đó cho vay lại với lãi suất cao hơn để hưởng chênh lệch lãi suất. Dó đó, ngân hàng luôn xem xét rất cẩn thận trước khi cho vay để đạt hiệu quả tránh rủi ro mất vốn. Vì thế rủi ro tín dụng do nguyên nhân từ phía ngân hàng thường chiếm tỷ lệ nhỏ và do những nguyên nhân sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Do Ngân hàng không có đủ thông tin về các số liệu thống kê, chỉ tiêu để phân tích và đánh giá khách hàng,…dẫn đến việc xác định sai hiệu quả phương án xin vay, hoặc xác định thời hạn cho vay và trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh của khách hàng. Sự lỏng lẻo trong quá trình kiểm tra, giám sát sau khi cho vay nên không phát hiện kịp thời hiện tượng sử dụng vốn vay không đúng mục đích.
Quá tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm coi đó là vật chất đảm bảo chắc chắn cho sự thu hồi nợ gốc và lãi tiền vay. Chạy theo số lượng (theo kế hoạch) mà xao lãng việc coi trọng chất lượng khoản vay, lạc quan, tin tưởng vào sự thành công của phương án kinh doanh. Ngân hàng có thể thiếu một bộ phận chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro, quản lý hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc từng ngành nghề, sản phẩm từng địa phương khác nhau để phân tán rủi ro, các dự báo cần thiết trong từng thời kỳ. Do cán bộ tín dụng thực hiện không đúng quy trình cho vay hay do quy trình tín dụng thiếu chặt chẽ và không phù hợp.
Ngân hàng vi phạm các nguyên tắc trong cho vay, cho vay vượt tỷ lệ an toàn, hoặc thiếu tài sản thế chấp, cầm cố. Do chất lượng cán bộ tín dụng thấp nên thẩm định khách hàng để cho vay thiếu chính xác hoặc cán bộ tín dụng vi phạm đạo đức trong cho vay, cấu kết với khách hàng để cho vay không đúng quy định của ngân hàng, hoặc cán bộ tín dụng chiếm dụng vốn vay dẫn đến các khoản nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng. Do cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt nên ngân hàng nới lỏng về điều kiện cần có của khách hàng để cho vay nhằm thu hút khách hàng. Nguyên nhân từ phía khách hàng: Rủi ro từ phía khách hàng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.