Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý quy hoạch đô thị. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý quy hoạch đô thị trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý quy hoạch đô thị trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ 1.Cơ sở lý luận về quản lý quy hoạch đô thị 1.
Lý luận về quy hoạch đô thị 1. Khái niệm, đặc điểm của đô thị Khái niệm v đô thị Ngày nay, với sự phát triển của các đô thị, khái niệm về đô thị được hiểu và trình bày một cách đa dạng, với nhiều cách tiếp cận như về kinh tế, chính trị, pháp lý,… Theo Phạm Kim Giao (2007), đô thị là các điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo cách sống văn minh, hiện đại hơn, khoa học và có hiệu quả kinh tế cao. Đó là phong cách, lối sống thành thị và lối sống công nghiệp. Theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2015 cho rằng: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn”.
Các đô thị đều mang đầy đủ các giá Có thể nói, đô thị là tên gọi chung của các thành phố, thị xã, thị trấn, là nơi tập trung dân cư đông đúc, là trung tâm một vùng lãnh thổ với hoạt động kinh tế chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ. trị về kinh tế, chính trị, quân sự, tuy nhiên với giá trị nào thì đô thị cũng được hình thành và phát triển từ nhu cầu giao lưu của con người. Đặc điểm của đô thị Thứ nhất, đô thị như một “cơ thể sống”, đặc điểm này rút ra từ tính chất đồng bộ, hoàn chỉnh của cấu trúc đô thị và đặc tính luôn luôn vận động của nó, các chức năng vận động của đô thị bao gồm toàn bộ các hoạt động của nền kinh tế - xã hội trên cơ sở hệ thống hạ tầng đô thị, bất kỳ một sự trục trặc nào trong cấu trúc cũng sẽ dẫn tới sự rối loạn trong các hoạt động của đô thị. 6 Thứ hai, đô thị luôn luôn phát triển, sự hình thành và phát triển của đô thị gắn liền với lịch sử phát triển của loài người, đặc biệt gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, sự hình thành, tồn tại và phát triển của đô thị chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế - xã hội, đặc biệt là các quy luật của nền kinh tế thị trường, các tác động này vừa là thời cơ, vừa là thách thức cho sự phát triển ổn định bền vững của các đô thị.
Thứ ba, sự vận động và phát triển của đô thị có thể điều khiển được, mặc dù sự hình thành và phát triển của đô thị gắn liền với các quy luật khách quan của nền kinh tế - xã hội nhưng con người có thể tham gia và điều khiển được quá trình phát triển đó nhưng phải theo đúng các quy luật khách quan của nó. Con người có thể định hướng phát triển, có thể can thiệp vào sự vận động của đô thị nhưng không thể bắt đô thị vận động theo ý chí chủ quan trái quy luật, nhờ có đặc điểm này chúng ta mới có thể quản lý được sự vận động và phát triển của đô thị. Quy hoạch và quy hoạch đô thị Quy hoạch Quy hoạch là đề xuất cho viễn cảnh của một sự vật, sự việc sau một thời gian nhất định, bao gồm sự bố trí, sắp xếp toàn bộ các nội dung, thành phần của sự vật, sự việc theo một trình tự nhất định. Phân loại quy hoạch dưới các góc độ khác nhau sẽ có các loại quy hoạch khác nhau.
Theo bản chất tự nhiên, có quy hoạch vật thể và quy hoạch phi vật thể. Theo hệ thống quy hoạch của quốc gia, có hệ thống quy hoạch tổng thể và hệ thống quy hoạch ngành. Theo tính chất của mục tiêu có quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch không gian-quy hoạch xây dựng và quy hoạch phát triển ngành. Quy hoạch đô thị Có nhiều cách tiếp cận về khái niệm quy hoạch đô thị.
Theo Võ Kim Cương (2004), quy hoạch đô thị là chuỗi các hoạt động được sắp xếp một cách có tổ chức nhằm đạt mục tiêu chiến lược phát triển đô thị. Quy hoạch đô thị bao hàm các phương pháp để thực hiện được kết quả cuối cùng là các bản vẽ, các bước để 7 chuyển hóa ý tưởng, bản vẽ thành các sản phảm quy hoạch. Quy hoạch đô thị cần thiết phải được đề cập đến khía cạnh tổ chức, sắp xếp và khía cạnh kế hoạch. Theo Phạm Trọng Mạnh (2010), quy hoạch đô thị là khoa học và nghệ thuật về tổ chức không gian chức năng cho các đô thị.
Quy hoạch đô thị liên quan đến nghệ thuật sắp xếp các hình thái không gian, kiến trúc đô thị, khoa học tính toán nhu cầu và nguồn lực trong đô thị, khoa học nghiên cứu văn hóa, lối sống của xã hội dân cư đô thị. Theo Luật Quy hoạch đô thị 2015, quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị, nhằm đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia và lợi ích cộng đồng, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Như vậy, quy hoạch đô thị là một trong những nội dung đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, đô thị phải được xây dựng và phát triển theo quy hoạch và những quy định của pháp luật nhằm mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và phát triển đô thị một cách hiệu quả, bền vững. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả nhà nước trong quản lý quy hoạch đô thị sẽ bảo đảm phát triển hệ thống các đô thị và từng đô thị bền vững, có bản sắc, văn minh, hiện đại, đồng bộ với phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường.
Việc quản lý chặt chẽ các quy hoạch nhằm giải quyết các vấn đề bức xúc hiện nay trong quản lý phát triển đô thị, nhất là việc sử dụng đất đai đô thị, quản lý không gian đô thị (bao gồm cả không gian ngầm), phát triển hạ tầng kỹ thuật và các dịch vụ đô thị. Quy hoạch đô thị là một hoạt động vừa mang tính khoa học, tính nghệ thuật, vừa mang tính hệ thống, tính kinh tế và tính khả thi. Tính khoa học thể hiện ở sự sắp xếp các khu chức năng phù hợp với quy luật phát triển kinh tế-xã hội, quy luật tâm sinh lý của mỗi người và quy luật vận động của thế giới tự nhiên. 8 Tính nghệ thuật thể hiện ở sự lựa chọn phương án tổ chức, sắp xếp các thành phần của đô thị để vừa tạo mới, vừa duy trì, phát triển quy mô phù hợp nhất với môi trường, cảnh quan của khu vực vừa đáp ứng cao nhất ý nguyện cao nhất của con người.
Tính hệ thống thể hiện ở việc quy hoạch hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở cho một đô thị phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội của đô thị. Tính kinh tế thể hiện ở các nguyên tắc thị trường, biến động nhanh và phụ thuộc vào các yếu tố vị trí, nguồn lực, thời điểm nhằm đáp ứng các dịch vụ, hoạt động kinh tế đô thị mang tính sáng tạo, khởi nghiệp ở hiện tại và tương lai. Tính khả thi thể hiện ở việc quy hoạch đô thị đảm bảo các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật và tính thực hiện được các dự án trong đó dự án quy hoạch. Quy hoạch đô thị bao gồm quy hoạch chung, quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết: Quy hoạch chung: là việc tổ chức không gian, hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở cho một đô thị phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đô thị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.
Quy hoạch phân khu: là việc phân chia và xác định chức năng, chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị của các khu đất, mạng lưới công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội trong một khu vực đô thị nhằm cụ thể hóa nội dung quy hoạch chung. Quy hoạch chi tiết: là việc phân chia và xác định chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị, yêu cầu quản lý kiến trúc, cảnh quan của từng lô đất; bố trí công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội nhằm cụ thể hóa nội dung của quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chung. Quản lý quy hoạch đô thị 1. Khái niệm v quản lý quy hoạch đô thị Khái niệm quản lý quy hoạch đô thị: Quản lý quy hoạch đô thị là quá trình thiết lập các quy định bắt buộc, lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và 9 giám sát quá trình phát triển xã hội nhằm đảm bảo cho các đồ án, đề án quy hoạch, các phân khu đô thị,.
đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt được thực hiện. Quản lý quy hoạch đô thị cũng là quá trình nghiên cứu những bất cập của các đồ án, đề án quy hoạch, các phân khu đô thị, nghiên cứu các bất cập của những chính sách áp dụng trong quá trình triển khai thực hiện công tác quản lý, đề xuất với các cấp có thẩm quyền để giải quyết một cách kịp thời (Nguyễn Thế Bá, 2004). Quản lý quy hoạch đô thị có hai mục đích chính: Bảo đảm thực hiện đúng quy hoạch, hạn chế tình trạng quy hoạch một đằng thực thi một nẻo; Kịp thời phát hiện những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn để kiến nghị/ quyết định điều chỉnh quy hoạch.