Chương 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY HOAT DONG PHAT TRIE! TRi TUE CHO TRE 3 -4 TUOI TAI CAC TRUONG MAM NON 1. Téng quan nghiên cứu vấn dé 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học Xô viết nỏi tiếng như A.Menchinxkaia đã nghiên cứu quá trình hình thành hành động trí tuệ ở trẻ em, nhờ đó đã phát hiện ra cơ chế chuyển từ hảnh động vật chất bên ngoài thành hành động trí tuệ ở bên trong và đặc điểm. các giai đoạn của sự hình thành các hành đông trí tuệ ở trẻ em [2] Năm 1983, Howard Gardner - một nhà tâm lý học nổi tiếng của Đại học Harvard- đã xuất bản một cuốn sách có nhan dé “Frames of Mind” (tam dịch “Cơ c¿ của trí tuệ").
Cuốn sách đã mang lại một cái nhìn nhân bản và cần thiết nhằm kêu gọi nhả trường và giáo viên coi trọng sự đa đạng về trí tuê ở trẻ: mỗi loại trí tuệ đều quan trọng và mí trẻ đều có ít nhiều khả năng theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Nhà trưởng phái là nơi giúp đỡ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo các hướng. khác nhau cho các chủ nhân tương lai của xã hội. Làm được điều đó, chúng ta sẽ giúp mỗi trẻ tóa sáng và thành công trong cuộc sống của chúng.
Bản về giáo dục trí tuệ trong quá trình dạy học, A. Xỏrô Kina nhấn mạnh: Trong hoạt động “giáo dục trẻ em trước tuổi đến trường” cần chủ trọng đến mục tiêu phát triển trí tuệ phủ hợp với sự phát triển thẻ chất của trẻ trong từng giai đoạn [ ]. Jean Piaget (1896 - 1980) là nhà tâm lí học Thuy Sĩ. Ông là một trong những người sảng lập môn tâm lí học phát triển, và chuyên nghiên cứu về tâm li học tư duy.
và tâm li học trẻ em. Dựa trên những dữ liệu từ thực nghiệm, Piaget xây dựng học thuyết về sự hình thành và phát triển trí tuệ. Học thuyết này coi trí tuệ lä sự phối hợp. các hành động bên trong của chú thê, đó lä những thao tác.
trí tuệ không bất biến mà phát triển theo từng cấp độ phụ thuộc vào giai đoạn và các thời kì được hoả nhập kế tiếp nhau bởi các điều kiện sinh lí của sự phát triển. Nỏ là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa chủ thẻ và môi trưởng. Mỗi lứa tuôi có đặc trưng riêng vẻ chất lượng. trí tuệ vã được coi là một giai đoạn phát triển.
Một giai đoạn phát triển trí tuệ có những. đặc trưng sau: thứ nhất, các thảnh tựu trí tuệ giai đoạn nảy là sự kế tiếp giai đoạn trước; thứ hai, là sự kết hợp thống nhất các cấu trúc đã cỏ từ giai đoạn trước; thứ ba, mỗi giai đoạn lả một cấu trúc tông thẻ các sơ đồ chứ không phải là sự xếp chồng các sơ đồ lên nhau; thử tư, mỗi giai đoan đều gồm các cấu trúc đã có, đang có và các yếu. tố chuẩn bị cho giai đoạn tiếp sau. Dựa vảo các dấu hiệu trên, J.Piaget chia quả trình phát triển trí tuệ của trẻ em thành các giai đoạn lớn, và trong mỗi giai đoạn lớn đó bao.
gồm những thời kỷ nhỏ. Maria Montessori trong tic phim “Trẻ thơ trong gia đình” đã phân tích môi trường cho trẻ tìm tòi phát triển trí tuệ với đặc trưng cơ bản lả: việc học thông qua trải nghiệm bằng các giác quan. Ba nhấn mạnh vai trò của sự kết nối giữa gia đình và nhà trường trong tạo môi trường mang tính học cụ cho trẻ trải nghiệm tích cực. Ở các góc được chuẩn bị các giảo cụ, trẻ huy động tối đa các giác quan để tìm hiểu khám.
phá: Tôn trọng những nét khác lệt của trẻ: Trẻ được tự do lựa chọn hoạt động theo hứng thủ nhu cầu của trẻ, kết quả tủy thuộc vào năng lực từng trẻ; Đề cao tính chủ động độc lập của trẻ. Trẻ không chỉ học cái gì, mã quan trọng hơn còn được học cách học như thế não và bồi đưỡng lòng say mê khám phả để phát triển tư duy cho trẻ. Theo quan điểm của L. Vưgotxki, trí tuệ có hai mức độ là trí tuệ bậc thấp vả trí é ba pl giống với trí tuệ động vật được đặc trưng bởi mỗi quan hệ trực tiếp kích thích - phản ứng.
Trí tuệ cao đặc trưng bởi sự tham gia của ngôn ngữ và môi quan hệ gián tiếp giữa chủ thể với đối tượng thông qua công cụ tâm. Như vậy, phương tiện làm trung gian của trí tuệ bậc cao đó là ngôn ngữ (hệ thông tín hiệu thứ hai). Vến tâm lý là phương tiện giúp chủng ta phát hiện, tiếp cận xử lý: thông tin. Khả năng tri tuệ phụ thuộc rất nhiều vào ngôn ngữ vị tamh Có thể thấy, trẻ em khi phát triển ngôn ngữ thì phát triển trí tuệ và khi trí tuê phát triển cao thì chức nãng tâm lý được cải tô phát triển cao [14] 1.
Các nghiên cứu trong nước Trí của mỗi đứa trẻ khác nhau. Cho đến nay, người ta chưa thể giải thích năng khiếu của con người ở đâu mà có, và đâu là nguyên nhân khiến trí của người này khác người kia. Nhiều cha mẹ thấy con của người khác tài giỏi nên cũng ao ước con mình tài giỏi như thể, Họ tìm mọi cách đề rèn luyện con minh cho bằng con người ta mà không nhận ra vii nhồi nhét ấy chăng những không mang lại hiệu quả mà còn làm cản trở sự phát triên tâm sinh lý bình thường của trẻ. Về vấn đề này, học giả Gia Hiền có lời khuyên: "Điều quan trọng là hãy day tre nên người, cỏn tài thì tủy thuộc vào trí của trẻ.
Trước hết, cẫn dạy cách làm người và ứng xử trong việc làm người đối với từng trẻ một. Sau đó, cung cấp thông tin, tin hiệu phù hợp với khả năng tiếp nhận của trẻ, đồng thời theo dõi xem phân giáo dục nào có thể biến thành trí tuệ đê điều chỉnh kỹ năng giáo dục trẻ hợp lý và hiệu quả".Về cơ bản, trí tuệ của một con người được phân làm 3 cấp độ Cấp đội sự từ đơn giản đến phức tạp, có ngôn ngữ(có chữ), biết kỳ năng sông và lao động. Cấp độ 2: Phát hiện ra các liên hệ của con người trong xã hội, tìm ra các mỗi liên hệ và phát triển của sự vật. Tir dé tao ra nhận thức chủ quan mà thành trí tuệ cá nhân, thành kết quả lao động, sáng tạo, phát triển cuộc sóng và xã hội.
Cấp độ 3: Đỉnh cao của tri tu là khả năng thấu hiểu giá trị làm người, giá trị vạn vật, biển hiểu biết thành trí thức, kết hợp được cám xúc và trí tuệ trong sáng tạo, có thé sáng tạo ra khoa học kỹ thu: L làm cho sự vật có ý nghĩa đối với đời sống con người, làm cho đời sống con người đạt tới chân-thiện-mỹ. 6 “Theo quan điểm về tâm lý học trẻ em, tri tuệ được hiểu lả một nội dung tâm lý điều khiển hảnh động của con người trong những tỉnh huống cụ thể, hợp quy luật và mang lại hiệu quả cao [17] Tir quan niệm của các nhà nghiên cứu, chúng ta thấy rằng trí tuệ là một khái niệm rộng phải xem xét trên nhiễu khia cạnh khác nhau thỉ mới có thể nghiên cứu về trí tuệ một cách đây đủ được. Mỗi nhà nghiên cứu đều cỏ lý khi đưa ra luận điểm của mình để giải thích và khái quát về trí tuế, nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đã gặp nhau ở quan điểm chung nhất là xem xét trí tuệ dựa trên thực tiễn hoạt động của con người bởi tất cả các quá trình nhận thức đều phải thông qua hoạt đông bằng các hành. vi cu thể mới có thể lĩnh hội được những yêu cầu của nhận thức.
Thực ra, các quan niệm vẻ trí tuệ không loại trừ nhau. Trong thực tiễn không có. quan niệm nảo chỉ chú ý đến duy nhất một khía cạnh năng lực tư duy hay khá năng. thích ứng, mà thường đẻ cập đến hầu hết các nội dung đã nêu trên.
Sự khác biệt giữa. các quan niệm chỉ là ở chỗ khía cạnh nào được nhắn mạnh và nghiên cứu sâu hơn. *Trí tuệ là một mặt cơ bản của nhân cách, là khả năng phát hiện, tiếp cận và xử lý thông tin để giải quyết những tình huồng mới, trong mối quan hệ giữa chủ thẻ hoạt động với môi trưởng hoạt động nhằm thích ứng tích cực với điều kiện của cuộc sông” [20]. Tác giá Đỉnh Văn Vang cho rằng “qua các thực nghiệm về tính linh hoạt của tư duy đã đi đến kết luận: hành động với đỗ vật càng phong phú, đa dạng cảng giúp trẻ tránh được sự hình thảnh kiêu tư duy giảo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa sau này.
Đồng thời tác giả cũng nhận định độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuỗi cùng của trẻ em. ở lứa tuổi “mầm non”, Ở giai đoạn nảy, những cấu tạo tâm lý đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây, đặc biệt là trong độ tuổi mẫu giáo nhỡ vẫn tiếp tục phát triển mạnh. Với sự giáo dục của người lớn, những chức năng tâm lý đó sẽ được hoàn thiện về mọi phương diện của hoạt động tâm lý (nhận thức, tình cảm và ý chí) để hoàn thành việc xây dựng những cơ sở ban đâu về nhân cách của con người” [24]. Trong cuỗn sách “Nội dung và phương pháp giáo dục trí tuệ cho trẻ mẫu giáo”, tác giả N.
N, Pôtdiacóp cho rằng: Trẻ ở tuổi mâm non là cơ hội tốt nhất đề rèn luyện. những kĩ năng, kĩ xảo sơ đẳng về hoạt động trí tuệ, bao gồm: Quan sát, ghỉ nhớ, tái hiện, tưởng tượng, phân tích, tông hợp, so sánh và phân loại [1§]. Mặc dù, đã có nhiều công trình khoa học trong vả ngoài nước nghiên cứu về sự. phát triển trí tuệ trẻ em.
Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng hoạt động phát triển trí tuệ cho trẻ 3 - 4 tuổi tại các trường mẫm non, cần có nhiều hơn các đề tài nghiên cứu liên quan đến vẫn đề này ở từng địa phương cụ thể. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường. Khái niệm quán lý Quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao đông trong một tổ chức nhất định.
Sự phân công, hợp tác lao động đó nhằm đạt hiệu quả và nãng suất lao động cao hơn, do vậy cần có người đứng đầu, chỉ huy, phối hợp điều hành, kiểm. tra, điều chỉnh. Chính vi vay, người ta quan niệm quản lý là một thuộc tỉnh lịch sử vì nó phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, thưởng xuyên biển đi nó là hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm.