CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN KHU ĐÔ THỊ MỚI PHƯỜNG DUYÊN HẢI, THÀNH PHỐ LÀO CAI THEO HƯỚNG TĂNG TRƯỞNG XANH 1.1 Cơ sở lý thuyết về công tác quản lý phát triển theo hướng tăng trưởng xanh khu đô thị 1.1 Khái niệm tăng trưởng xanh và quản lý đô thị xanh 1.1 Khái niệm tăng trưởng xanh Ở cấp độ toàn cầu, nền kinh tế xanh đã được Hội nghị Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển (UNCED), tổ chức năm 2012 tại Rio de Janeiro hay còn gọi là Hội nghị Thượng đỉnh Rio+ 20, kêu gọi các quốc gia thực hiện. Năm 2005, Châu Á và Thái Bình Dương đã đi tiên phong về khái niệm tăng trưởng xanh. Tăng trưởng xanh được coi là điều kiện tiên quyết để xây dựng nền kinh tế xanh trong bối cảnh phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo [12]. Lần đầu tiên khái niệm tăng trưởng xanh được đưa vào thảo luận liên chính phủ tại Hội nghị Bộ trưởng về môi trường và phát triển (MCED) lần thứ 5 của châu Á - Thái Bình Dương, được tổ chức năm 2005 tại Seoul - Hàn Quốc.
Cuộc họp đã ban hành tuyên bố cấp Bộ về môi trường và phát triển, lấy tăng trưởng xanh là chiến lược nhằm đạt được sự phát triển bền vững. Theo tuyên bố cấp Bộ MCED5, tăng trưởng xanh hay tăng trường kinh tế bền vững với môi trường được định nghĩa là chiến lược duy trì tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm cần thiết để giảm nghèo trước những hạn chế về tài nguyên và khủng hoảng khí hậu. Bên cạnh khái niệm mà MCED đưa ra, khái niệm tăng trưởng xanh cũng được các tổ chức trên thế giới đề cập đến. Theo tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), tăng trưởng xanh là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, đồng thời đảm bảo các tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp các tài nguyên và dịch vụ môi trường.
Tóm lại, tăng trưởng xanh là nhân tố quan trọng cho quá trình phát triển bền vững, nhằm đảm bảo sự phát 5 triển hài hòa giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường trong quá trình phát triển quốc gia nói chung và trong bối cảnh phát triển đô thị nói riêng [12].2 Khái niệm về quản lý đô thị theo hướng tăng trưởng xanh Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế và văn hóa hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương bao gồm nội thành, ngoại thành của tỉnh, nội thị ngoại thị của thị xã, thị trấn. Quản lý đô thị theo hướng tăng trưởng xanh là quá trình tác động bằng các cơ chế, chính sách của các chủ thể quản lý đô thị (các cấp chính quyền các tổ chức xã hội, các sở ban ngành chức năng) vào các hoạt động đô thị nhằm thay đổi hoặc duy trì hoạt động đó theo hướng tăng trưởng bền vững và thân thiện với môi trường [12].2 Nguyên tắc, mục tiêu và yêu cầu công tác quản lý đô thị theo hướng tăng trưởng xanh 1.1 Nguyên tắc của công tác quản lý đô thị theo hướng tăng trưởng xanh Tăng trưởng xanh là một xu hướng và đồng thời là vấn đề cần thiết thực hiện trong giai đoạn sắp tới. Hệ thống các đô thị hiện nay đóng góp vai trò lớn đối với nền kinh tế của quốc gia. Chính vì vậy, việc đảm bảo phát triển đô thị theo hướng tăng trưởng xanh cũng là một trong những ưu tiên cần phải thực hiện.
Nguyên tắc giảm thiểu ô nhiễm trong khu vực đô thị hướng đến mục tiêu tăng trưởng xanh, cần phải thực hiện [12]: + Ưu tiên hiệu quả sử dụng đất trong phát triển đô thị theo hình thức thiết kế đô thị nhỏ gọn, hiệu quả, hỗn hợp và cân bằng chức năng; + Phát triển hệ thống giao thông công cộng, giảm sử dụng phương tiện cá nhân, khuyến khích người dân đi bộ và đi xe đạp, xây dựng mạng lưới các trạm giao thông công cộng hiệu quả; + Kiến tạo và duy trì không gian công cộng chất lượng, dễ tiếp cận, đa chức năng và thân thiện với môi trường. Tạo sự cân bằng trong quá trình quản lý và nâng cấp giữa nguồn tài nguyên và hiệu quả; 6 + Năng lượng và hiệu suất môi trường của hoạt động xây dựng được chú ý khi thúc đẩy hiệu quả năng lượng xây dựng và công trình xanh; + Rác thải đô thị được xem như là một tài nguyên để tái chế và thực hiện cơ chế giảm thiểu rác thải; + Chuyển đổi hình thức từ “quản lý thành phố” sang “quản trị thành phố”, nhằm nhấn mạnh vai trò cộng đồng trong việc giảm khí phát thải thông qua hình thức quản trị với thông tin minh bạch, có sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan; + Thiết lập các cơ chế đánh giá cho đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị và tài chính cho hỗ trợ sự phát triển xanh [12].2 Mục tiêu và yêu cầu của công tác quản lý đô thị theo hướng tăng trưởng xanh Tăng trưởng xanh (TTX) tại Việt Nam đang gắn với các vấn đề về phát triển hiệu quả hạ tầng đô thị và ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong dự thảo Chiến lược TTX của Việt Nam thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến 2050 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra quan điểm chiến lược “TTX ở Việt Nam là phương thức thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nền kinh tế để tiến tới việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính thông qua nghiên cứu và áp dụng công nghệ hiện đại, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng để nâng cao hiệu quả nền kinh tế, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo, và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững”. Như vậy, về cơ bản, mục tiêu của TTX chính là làm sao để giảm thiểu tiêu thụ năng lượng, đặc biệt nguồn năng lượng hóa thạch trong các hoạt động kinh tế và hoạt động đô thị.
Rất nhiều các bài báo, nghiên cứu đã chỉ ra cách thức nhằm hướng đến mục tiêu này có thể dựa trên nguyên tắc: Compact – Integrated – Connected (Nhỏ gọn/ Nén – Tích hợp – Kết nối) [10]. Cụ thể trong lĩnh vực đô thị gồm: i) đổi mới phát huy nguồn lực đất đai trong đô thị thông qua đổi mới hoặc tối ưu hóa hiệu quả của bản quy hoạch sử dụng đất đô thị, cung cấp một mạng lưới đường phố kết nối với hạ tầng an toàn, hiệu quả dễ chịu, khuyến khích đi bộ, đi xe đạp; Thúc đẩy tăng trưởng đô thị mật độ cao, 7 giảm bớt sự phát triển lan tỏa không kiểm soát (urban sprawl) – phát huy mô hình đô thị nén (compact city) ở quy mô đô thị hoặc khu đô thị hỗn hợp, tổ hợp sử dụng hỗn hợp (quy mô khu vực và nhóm công trình) để tập trung các chức năng đô thị trong một khoảng cách tối ưu nhất và hạn chế giao thông đô thị không cần thiết; ii) tăng cường giao thông công cộng, giảm thiểu giao thông cá nhân, khuyến khích giao thông đi bộ hoặc xe đạp (điều này liên quan đến mô hình quy hoạch khu ở để tạo ra những không gian ở hiệu quả trong khoảng cách đi bộ, giảm thiểu sự phụ thuộc vào ô tô); iii) tập trung tạo ra nhiều không gian xanh trong đô thị gia tăng chất lượng sống đô thị; iv) xây dựng công trình xanh trong đô thị (khai thác chiếu sáng và thông gió tự nhiên thay vì lạm dụng thiết bị có tiêu thụ năng lượng hóa thạch hoặc điện, sử dụng các vật liệu xây dựng thân thiện môi trường, sử dụng nhiều hơn các công nghệ xanh, thiết kế “xanh”…); v) tập trung các vấn đề công bằng xã hội: Thúc đẩy công bằng, đa dạng và bền vững xã hội và phát triển cộng đồng theo những cách có hiệu quả về kinh tế. Cung cấp đa dạng các lô đất và các loại nhà ở để phục vu nhu cầu nhà ở của cộng đồng, với mật độ có thể hỗ trợ cho cung cấp các dịch vụ địa phương; vi) Ngoài ra, các giải pháp về tạo năng lượng sạch trong đô thị (năng lương mặt trời, năng lượng sinh học…) xử lý nguồn nước cấp nước thải, và phát triển các mô hình kinh tế xanh, kinh tế dựa vào dịch vụ đô thị thay vì kinh tế khai thác, các chính sách hỗ trợ khác về kinh tế, quản lý thị trường và sản phẩm dịch vụ, chính sách về tài chính, đánh thuế [12].3 Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý phát triển theo hướng đô thị xanh khu đô thị Sự tham gia của cộng đồng là tìm kiếm và huy động nguồn lực của cộng đồng như cung cấp lao động tình nguyện xây dựng, thu phí hỗ trợ các dự án của cộng đồng, sử dụng chuyên môn của các thành viên trong cộng đồng qua đó để tăng lợi ích của cộng đồng dân cư giảm các chi phí, tăng hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị cho nhà nước [2]. Người dân tham gia vào việc ra quyết định vì kết quả của các quyết định trong cộng đồng sẽ làm ảnh hưởng tới cuộc sống của họ.
Sự tham gia của cộng 8 đồng làm tăng sức mạnh bời người dân vì khi làm việc cùng nhau sẽ tăng tính tự tin và khả năng của họ để giải quyết các vấn đề phát triển khu đô thị theo hướng tăng trưởng xanh. Sự tham gia của cộng đồng đảm bảo thu được những kết quả của dự án tốt hơn vì chính người dân biết rõ nhất họ cần gì, những gì họ đủ khả năng và họ có thể dùng các nguồn lực riêng cho các hoạt động của cộng đồng. Đồng thời sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý là chức năng cao nhất, có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả của các dự án phát triển được thể hiện cụ thể. Tăng tính hiệu quả của dự án: sự tham gia của nhiều người được hưởng lợi giúp đảm bảo cho dự án sẽ đạt được các mục tiêu của nó và lợi ích sẽ rơi vào các nhóm mong đợi [11].
Góp phần vào sự tăng trưởng xanh: những người tham gia được đóng góp tiền, nguyên vật liệu, sức lao động trong suốt quá trình thực hiện dự án. Tăng tính hiệu quả của dự án thông qua việc trao đổi ý kiến với những người được hưởng lợi trong suốt quá trình lập kế hoạch dự án hoặc sự tham gia của họ trong công tác quản lý thực hiện và điều hành dự án.