Tổng quan nghiên cứu

Ngành dệt may Việt Nam giữ vai trò huyết mạch trong cơ cấu công nghiệp và xuất khẩu quốc gia. Theo số liệu thống kê kinh tế, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành dệt may đã tăng trưởng mạnh mẽ từ 9,1 tỷ USD trên tổng số 56,6 tỷ USD năm 2009 lên 10,5 tỷ USD trên tổng số 71,63 tỷ USD năm 2010, chiếm tỷ trọng xấp xỉ 14,6% đến 16,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đứng trước áp lực cạnh tranh toàn cầu và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường lao động đòi hỏi nguồn nhân lực kỹ thuật may không chỉ có tay nghề gia công đơn thuần mà phải sở hữu năng lực quản trị quy trình, ứng dụng khoa học kỹ thuật và thích ứng nhanh với công nghệ sản xuất hiện đại.

Tuy nhiên, công tác đào tạo tại các trường đại học kỹ thuật ở giai đoạn này bộc lộ nhiều điểm nghẽn mang tính cấu trúc. Chương trình đào tạo chuyên ngành may mặc tại nhiều cơ sở đào tạo còn mang tính chắp vá, nặng về lý thuyết hàn lâm, thiếu hụt các môn học chuyên sâu tự chọn và chưa trang bị đầy đủ kỹ năng mềm cho người học. Sự chuyển đổi từ phương thức đào tạo niên chế sang học chế tín chỉ theo Quyết định 43/2007/QĐ-BGDĐT đòi hỏi chương trình phải đạt độ mềm dẻo, linh hoạt cao để đáp ứng biến động của thị trường việc làm, song quy trình cập nhật chương trình thực tế vẫn còn chậm trễ và lạc hậu so với tốc độ đổi mới của thiết bị công nghiệp.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng quản lý phát triển chương trình đào tạo chuyên ngành Công nghệ May tại Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, từ đó đề xuất hệ thống các biện pháp quản lý khoa học, đồng bộ và có tính khả thi cao nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng chuẩn đầu ra theo yêu cầu doanh nghiệp. Phạm vi nghiên cứu tập trung khảo sát hệ thống chương trình đào tạo ngành May tại Khoa Công nghệ May và Thiết kế Thời trang thuộc Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội trong giai đoạn 2009-2011, gắn liền với định hướng chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2010-2015. Ý nghĩa của nghiên cứu được cụ thể hóa bằng việc chuẩn hóa vòng đời chương trình đào tạo không quá 3 năm đối với hệ cao đẳng và 4 năm đối với hệ đại học, hướng đến mục tiêu nâng tỷ lệ sinh viên có việc làm đúng chuyên ngành sau tốt nghiệp lên trên 85% và giảm tỷ lệ doanh nghiệp phải đào tạo lại xuống dưới 20%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận quản lý giáo dục hiện đại và các mô hình phát triển chương trình đào tạo kinh điển trên thế giới. Trước hết, mô hình mục tiêu của Ralph Tyler (1949) thiết lập 4 thành tố cốt lõi của chương trình đào tạo: xác định mục tiêu đào tạo, lựa chọn nội dung kiến thức, tổ chức quy trình giảng dạy và đánh giá kết quả học tập. Tiếp đó, mô hình phát triển chương trình quy nạp 5 bước của Hilda Taba nhấn mạnh cách tiếp cận bắt đầu từ thực tiễn lớp học và xưởng thực hành, đi từ việc chẩn đoán nhu cầu của người học đến thiết kế các đơn vị học phần thử nghiệm trước khi khái quát hóa thành chương trình khung. Ngoài ra, mô hình 12 bước của Peter Oliva (1992) và mô hình hoạch định của Saylor, Alexander và Lewis cung cấp khung nhìn đa chiều về sự kết hợp giữa triết lý giáo dục, nhu cầu xã hội và chiến lược đánh giá liên tục.

Về mặt khái niệm, nghiên cứu làm rõ 4 thuật ngữ nền tảng:

  • Quản lý giáo dục: Hệ thống các tác động có ý thức, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý đến toàn bộ các khâu của quá trình đào tạo nhằm đạt tới mục tiêu định sẵn.
  • Chương trình đào tạo: Bản thiết kế tổng thể các hoạt động giáo dục trong một khoảng thời gian xác định, bao gồm chương trình khung theo quy định nhà nước và chương trình chi tiết phân bổ cho từng học kỳ.
  • Phát triển chương trình đào tạo: Một chu trình vận động khép kín, liên tục và không ngừng hoàn thiện qua 5 giai đoạn: phân tích tình hình, xác định mục tiêu, thiết kế cấu trúc, thực thi giảng dạy và kiểm định đánh giá chất lượng.
  • Công nghệ May: Hệ thống các phương pháp, quy trình, kỹ năng kỹ thuật và công cụ cơ khí tự động hóa nhằm biến đổi nguyên phụ liệu dệt may thành sản phẩm thời trang hoàn chỉnh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa dạng bao gồm hệ thống văn bản pháp lý quốc gia (Luật Giáo dục 2005, Quyết định 2677/GD-ĐT năm 1993, Quyết định 43/2007/QĐ-BGDĐT) và các báo cáo nội bộ về quy mô đào tạo của Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội với tổng số 45.679 học sinh - sinh viên tại thời điểm khảo sát. Cỡ mẫu điều tra thực nghiệm được xác định với 120 cán bộ quản lý và giảng viên trực tiếp giảng dạy tại các khoa chuyên môn, 250 sinh viên năm cuối cùng cựu sinh viên ngành Công nghệ May, kết hợp phỏng vấn sâu 15 nhà quản lý tại các doanh nghiệp dệt may trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh lân cận. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho từng hệ đào tạo từ cao đẳng đến đại học.

Phương pháp phân tích kết hợp giữa định lượng và định tính. Dữ liệu khảo sát từ các phiếu trưng cầu ý kiến được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học, tính toán điểm trung bình, độ lệch chuẩn và kiểm định tỷ lệ phần trăm đồng thuận về tính cần thiết cũng như tính khả thi của từng biện pháp. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là để lượng hóa chính xác mức độ phù hợp của các quyết định quản lý, loại bỏ cảm tính chủ quan và tạo cơ sở đối sánh khoa học với các chuẩn mực kiểm định giáo dục đại học. Toàn bộ tiến trình khảo sát và thu thập thông tin được thực hiện chặt chẽ trong khung thời gian từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 5 năm 2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô đào tạo của Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội tăng trưởng rất nhanh chóng với 19 chuyên ngành bậc đại học, 19 chuyên ngành cao đẳng và 14 chuyên ngành trung cấp. Trong tổng số 45.679 người học toàn trường, sinh viên hệ cao đẳng chính quy chiếm 17.083 người (tương đương 37,4%), sinh viên đại học chính quy chiếm 15.204 người (tương đương 33,3%), cùng hàng nghìn học viên thuộc các hệ liên thông và vừa học vừa làm. Mặc dù quy mô người học ngành May rất lớn, công tác thiết kế chương trình vẫn mang nặng tính chủ quan của ban chủ nhiệm khoa, chưa có sự tham gia sâu sắc của các nhà khoa học ngoài trường và doanh nghiệp sử dụng lao động.

Thứ hai, quy định kiểm soát vòng đời chương trình đào tạo của nhà trường giới hạn không quá 3 năm đối với bậc cao đẳng và 4 năm đối với bậc đại học, nhưng việc thực hiện chủ yếu dừng lại ở mức độ điều chỉnh cục bộ tên gọi môn học hoặc sắp xếp lại tiến độ thời khóa biểu. Kết quả điều tra thực trạng cho thấy có tới 68,5% ý kiến từ cán bộ giảng viên và chuyên gia đánh giá rằng việc lấy ý kiến đóng góp từ các doanh nghiệp dệt may trong khâu thẩm định chương trình còn mang tính hình thức, chưa phản ánh kịp thời sự biến đổi của công nghệ may tự động hóa.

Thứ ba, cơ cấu phân bổ thời lượng giữa lý thuyết và thực hành chưa thực sự cân đối. Theo quy định khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tỷ lệ giữa khối kiến thức giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp đối với trình độ đào tạo 4 năm là khoảng 4/6, với khối lượng kiến thức chuyên môn chính tối thiểu đạt 45 đơn vị học trình. Tuy nhiên, trong chương trình ngành May tại trường, các học phần thực hành rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp và tiếp cận thiết bị mới chỉ chiếm khoảng 35-40% tổng thời lượng. Có 58,2% sinh viên năm cuối được khảo sát phản ánh rằng họ gặp lúng túng khi tiếp cận các công đoạn rải chuyền may công nghiệp và kiểm soát chất lượng sản phẩm xuất khẩu tại doanh nghiệp.

Thứ tư, công tác đánh giá và kiểm định chương trình đào tạo sau khi thực thi còn bị động. Mặc dù tỷ lệ thu hồi phiếu phản hồi từ người học đạt trên 80%, việc tổng hợp dữ liệu để cải tiến nội dung giảng dạy chỉ đạt mức độ tác động khoảng 25-30% cấu trúc học phần. Nhà trường chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu số hóa liên kết thông tin việc làm của cựu sinh viên với quy trình cập nhật chuẩn đầu ra.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên bắt nguồn từ cơ chế quản lý phân cấp chưa hoàn thiện và sự thiếu hụt một bộ phận chuyên trách về phát triển chương trình tại cấp khoa. Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính dành cho công tác nghiên cứu phát triển chương trình còn eo hẹp khi nguồn ngân sách nhà nước cấp chỉ chiếm khoảng 15% đến 20% tổng chi phí vận hành, nhà trường phải tự chủ hơn 80% nguồn thu từ học phí. Đội ngũ giảng viên tuy có trình độ chuyên môn kỹ thuật vững vàng nhưng chưa được bồi dưỡng bài bản về kỹ năng thiết kế chương trình theo chuẩn đầu ra quốc tế.

So sánh với các nghiên cứu giáo dục nghề nghiệp cùng thời kỳ, kết quả này hoàn toàn tương đồng với bức tranh chung của hệ thống đại học kỹ thuật Việt Nam: quá trình chuyển đổi sang học chế tín chỉ diễn ra nhanh về mặt quy mô nhưng chậm về mặt tái cấu trúc nội dung. Trong khi ngành dệt may Việt Nam đạt mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trên 15% mỗi năm, chương trình đào tạo lại có độ trễ từ 3 đến 5 năm so với công nghệ thực tế tại các nhà máy.

Về mặt học thuật và quản trị, các phát hiện này chứng minh rằng việc quản lý chương trình đào tạo không thể vận hành theo phương thức truyền thống từng năm mà phải áp dụng mô hình quản lý chất lượng tổng thể. Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa qua sơ đồ quy trình kiểm soát 7 bước của nhà trường và các biểu đồ đối sánh mức độ cần thiết, tính khả thi của các giải pháp can thiệp, tạo lập cơ sở vững chắc cho việc ra quyết định quản lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp quản lý phát triển chương trình đào tạo chuyên ngành Công nghệ May với các mục tiêu và lộ trình cụ thể:

  • Thành lập Tiểu ban phát triển chương trình chuyên trách tại Khoa Công nghệ May và Thiết kế Thời trang: Ban hành quy định chức năng nhiệm vụ rõ ràng cho nhóm chuyên gia gồm 5-7 thành viên nòng cốt; hoàn thành việc kiện toàn nhân sự trong quý I năm 2012; chủ thể thực hiện là Ban Giám hiệu phối hợp cùng Ban Chủ nhiệm Khoa.
  • Chuẩn hóa hệ thống văn bản pháp quy và quy trình phát triển chương trình đào tạo: Xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá và mẫu đề cương chi tiết học phần theo đúng triết lý tín chỉ, nâng tỷ lệ thời lượng thực hành xưởng và thí nghiệm lên mức tối thiểu 50% khối lượng chuyên ngành; hoàn thành trong 6 tháng đầu năm 2012; chủ thể thực hiện là Phòng Đào tạo cùng Hội đồng Khoa học và Đào tạo nhà trường.
  • Tổ chức các khóa tập huấn bồi dưỡng kỹ năng phát triển chương trình cho 100% cán bộ quản lý và giảng viên: Đạt chỉ tiêu trên 90% giảng viên làm chủ kỹ thuật xây dựng ma trận chuẩn đầu ra và phương pháp dạy học tích hợp; triển khai định kỳ 2 đợt mỗi năm trong giai đoạn 2012-2015; chủ thể thực hiện là Khoa Công nghệ May phối hợp cùng Phòng Tổ chức cán bộ.
  • Mở rộng mạng lưới liên kết chiến lược với ít nhất 20 doanh nghiệp dệt may xuất khẩu quy mô lớn và mạng lưới cựu sinh viên: Nâng tỷ lệ đóng góp ý kiến thực tiễn vào chương trình lên 35%, cam kết 100% sinh viên được thực tập trên dây chuyền công nghệ hiện đại; thực hiện thường xuyên từ quý III năm 2012; chủ thể chịu trách nhiệm là Trung tâm Hợp tác doanh nghiệp và Ban Chủ nhiệm Khoa.
  • Thiết lập hệ thống kiểm định chất lượng định kỳ và tái cấu trúc chương trình theo chu kỳ 3 năm: Duy trì mức độ hài lòng của đơn vị sử dụng lao động đạt trên 85%; thực hiện rà soát hàng năm và tiến hành tổng kiểm định toàn diện vào năm 2014; chủ thể thực hiện là Phòng Quản lý chất lượng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Cán bộ quản lý giáo dục và lãnh đạo các trường đại học, cao đẳng kỹ thuật: Khai thác khung quy trình 5 bước và các mô hình quản lý phân cấp để hoạch định chiến lược phát triển chương trình đào tạo toàn trường, chuyển đổi hiệu quả sang học chế tín chỉ.
  • Giảng viên và trưởng bộ môn chuyên ngành Công nghệ May, Thiết kế Thời trang: Tham khảo phương pháp xây dựng đề cương môn học chi tiết, cấu trúc ma trận kiến thức kỹ năng và cách thức tích hợp học phần thực hành sát với yêu cầu thực tế của các nhà máy may công nghiệp.
  • Chuyên viên phòng Đào tạo và phòng Đảm bảo chất lượng: Sử dụng bộ công cụ khảo sát, tiêu chuẩn vòng đời chương trình và quy trình lấy ý kiến doanh nghiệp làm tài liệu tham chuẩn cho công tác kiểm định chất lượng nội bộ.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục: Tiếp cận một công trình nghiên cứu điển hình kết hợp chặt chẽ giữa lý luận phương Tây và thực tiễn quản lý giáo dục đại học tại Việt Nam, phục vụ trực tiếp cho việc hoàn thiện các đề tài luận văn, luận án liên quan.

Câu hỏi thường gặp

Vòng đời tối ưu của chương trình đào tạo ngành Công nghệ May nên được xác định trong bao lâu? Vòng đời tối ưu của chương trình đào tạo ngành May nên khống chế ở mức 3 năm đối với hệ cao đẳng và 4 năm đối với hệ đại học. Chu kỳ này giúp nhà trường cập nhật kịp thời các bước tiến về công nghệ tự động hóa trong ngành may mặc, phù hợp với đà tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu dệt may trên 10 tỷ USD mỗi năm.

Tại sao mô hình quy nạp của Hilda Taba lại đặc biệt phù hợp với ngành đào tạo kỹ thuật may? Mô hình của Hilda Taba khởi đầu từ việc phân tích nhu cầu tại lớp học và xưởng may thực hành, cho phép giảng viên trực tiếp thiết kế và thử nghiệm từng đơn vị bài giảng. Cách tiếp cận này giúp khắc phục triệt để khoảng cách giữa lý thuyết sách vở và thao tác kỹ thuật trên dây chuyền sản xuất thực tế.

Làm thế nào để đo lường mức độ thành công của một chương trình đào tạo sau khi đổi mới? Hiệu quả của chương trình được đo lường thông qua tỷ lệ sinh viên có việc làm đúng chuyên ngành trong 6 tháng đầu sau tốt nghiệp đạt trên 85%, tỷ lệ hài lòng của hơn 20 doanh nghiệp đối tác tuyển dụng, cùng mức độ giảm thiểu thời gian đào tạo lại tại nhà máy xuống dưới 20%.

Trở ngại lớn nhất trong việc phát triển chương trình đào tạo tại các trường đại học công lập là gì? Rào cản lớn nhất nằm ở kinh phí nghiên cứu hạn hẹp khi nguồn ngân sách cấp chỉ chiếm 15% đến 20%, cùng sự thiếu hụt đội ngũ chuyên gia được đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật đo lường chuẩn đầu ra, khiến quy trình đổi mới chương trình dễ rơi vào hình thức.

Doanh nghiệp dệt may có thể tham gia vào những khâu nào trong quy trình phát triển chương trình? Doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào 3 khâu trọng yếu: cung cấp thông tin dự báo nhu cầu thị trường, tham gia hội đồng thẩm định chuẩn đầu ra và tiếp nhận sinh viên thực tập để đánh giá năng lực thực tế, đóng góp tới 30-35% lượng thông tin phản hồi cho việc hoàn thiện chương trình.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý phát triển chương trình đào tạo theo các mô hình chuẩn mực quốc tế của Tyler, Taba và Oliva.
  • Phân tích sâu sắc thực trạng quản lý đào tạo ngành May tại Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội trong bối cảnh phục vụ quy mô trên 45.000 học sinh - sinh viên.
  • Nhận diện chính xác các nguyên nhân cốt lõi gây mất cân đối giữa kiến thức giáo dục đại cương và thời lượng rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu.
  • Đề xuất 5 nhóm giải pháp quản lý mang tính đột phá với tỷ lệ đồng thuận khảo sát về tính cần thiết và khả thi đạt trên 85%.
  • Xác lập lộ trình thực thi theo từng giai đoạn cụ thể từ năm 2012 đến năm 2015, gắn liền với cơ chế kiểm định chất lượng định kỳ.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp một khung phương pháp luận khoa học và cẩm nang hành động thực tiễn cho công tác quản lý phát triển chương trình đào tạo chuyên ngành kỹ thuật may trong thời kỳ chuyển đổi học chế tín chỉ. Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi nhà trường triển khai thí điểm Tiểu ban phát triển chương trình trong quý I năm 2012 và hoàn thành đợt tổng kiểm định chất lượng vào cuối năm 2014. Hãy chủ động nghiên cứu và vận dụng ngay các biện pháp quản lý tiên tiến này nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dệt may, tạo lợi thế cạnh tranh bền vững cho giáo dục đại học Việt Nam trên trường quốc tế.