CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG GÓP PHẦN XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu 1. Về học tập suốt đời và xã hội học tập Năm 1996, với tên gọi “Học tập, một kho báu tiềm ẩn” UNESCO công bố công trình của Jacque Delors, nguyên chủ tịch Ủy ban châu Âu (EU) [150] và được thế giới thừa nhận như một triết lý của giáo dục thế kỷ XXI. Trong công trình này tác giả đã phân tích việc HTSĐ.
Với triết lý của một nền giáo dục cần thiết cho thế kỷ XXI: “Giáo dục phải dựa trên 4 trụ cột: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để làm người”. Bốn trụ cột này phải được đặt trên nền tảng HTSĐ và xây dựng XHHT. Từ đây xuất hiện 2 đặc trưng mới của giáo dục thế kỷ XXI là: HTSĐ và XHHT. HTSĐ được coi như là chìa khóa để bước vào thế kỷ XXI, nó hình thành một quan niệm mới về giáo dục là giáo dục ban đầu và giáo dục tiếp tục.
HTSĐ gắn với quan niệm mới tiên tiến quan niệm về một XHHT. Ở một XHHT có thể tạo ra cơ hội học tập và phát huy mạnh mẽ tiềm năng của mỗi con người. Cùng với công trình đã nêu ở trên, còn có nhiều nghiên cứu đề cập và nhấn mạnh tới xu thế HTSĐ trong điều kiện hiện nay. Ví dụ, các nhà tương lai học, giáo dục học trên thế giới như Toffler Alvin, Bennis, Warren Stephen Covey, Gary Hamel, Kevin Kelly, Philip Kotler, John Kotter Michael Porter, Perer Senge, Thomas L.
RoySingh, Viên Quốc Chấn,. Các nhà tương lai học trên đã đưa ra dự báo nền giáo dục mới hoàn toàn khác với nền giáo dục truyền thống mà đặc trưng cơ bản của nó là sự lỗi thời nhanh chóng của kiến thức cũng như của các ngành sản xuất trong xã hội. Do đó, nền giáo dục mới phải hướng đến sự giáo dục suốt đời. Đi liền với việc nghiên cứu về xu thế HTSĐ của nền giáo dục mới, nhiều nhà khoa học đã tập trung làm sáng tỏ vấn đề XHHT.
Các nhà khoa học đã tiếp cận về XHHT theo nhiều cách khác nhau, có thể kể đến ba cách tiếp cận chính: Cách tiếp cận logic. Điển hình cho cách tiếp cận logic là Faure và cộng sự. Faure, Torsten 11 Husen và Steward Ranson. Theo cách tiếp cận quá trình, Donald Schon [163] trong các năm 1963, 1967, 1973 đã cho rằng xã hội và tất cả các cơ quan, tổ chức trong nó có những quá trình biến đổi liên tiếp.
Do đó, cần phải hiểu, định hướng, gây ảnh hưởng và quản lý được những sự thay đổi liên tiếp đó. Tiêu biểu cho cách tiếp cận theo nhu cầu là Rober M. Hutchins khẳng định sự cấp thiết cần phải hình thành XHHT và giáo dục phải tạo điều kiện cho việc học tập của con người diễn ra liên tục. Công trình của Donal Schon, với ý tưởng các công ty, các phong trào xã hội và các cơ quan đều phải là “các hệ thống học tập” (learning system).
Trong các công trình của mình, Robert M.Hutchins đã phân tích cơ sở xã hội của của một XHHT. Một trong những công trình nghiên cứu về XHHT đáng quan tâm nhất là của Hutsen, nghiên cứu vai trò của sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật với sự ra đời của XHHT, đặc biệt từ những năm 40 của thế kỷ trước. Một trong những công trình được nhiều người đánh giá cao là của Richard Edwards [156]. Theo Richard Edwards, XHHT là một xã hội đảm bảo tự do dân chủ và bình đẳng cho mọi người, đặc biệt là mọi người dân đều tạo cho mình khả năng tự học và tự học suốt đời, từ đó nẩy sinh ra động cơ học tập, nhu cầu học tập là một động lực quan trọng thúc đẩy sự học ngày càng cao.
Về mô hình XHHT, Roger Boshier đề xuất một mô hình XHHT cho phép con người có thể tham gia học tập trong suốt cuộc đời của họ. Hughes bằng cách tiếp cận theo nguồn cảm hứng, mô tả XHHT như là một xã hội mà các quốc gia và khu vực đòi hỏi cần phải có để duy trì cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu ngày càng tăng. Còn Edwards, năm 1997 đưa ra các mô hình XHHT tuy có nhiều điểm khác nhau nhưng tổng hợp lại chúng đều đề cập tới các khía cạnh nhu cầu và nghĩa vụ học tập; cơ hội và điều kiện học tập của người dân. Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên, đã giải quyết được các nội dung cơ bản của vấn đề xu thế HTSĐ và xây dựng một XHHT như tính tất yếu của thời đại.
Đến những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, xu thế HTSĐ và một XHHT đang được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới. Đơn cử một số nước như sau: 12 Tại Mỹ, trong báo cáo của Ủy ban Giáo dục chất lượng cao đã gửi Quốc hội tháng 4 năm 1984, trong đó nhấn mạnh: Cần phải dốc sức vào việc giáo dục suốt đời, mở ra phong trào giáo dục với mục tiêu xã hội hóa giáo dục. Ngày 18 tháng 4 năm 1991, trong chiến lược GD của kế hoạch năm 2000 lại nhấn mạnh thêm: HTSĐ kiến thức, kỹ thuật và hô hào mở cuộc vận động cả nước thành “cả nước đi học”. Tại Pháp, tư tưởng HTSĐ lần đầu tiên được đề xuất vào năm 1960 bởi Paolo Langơ, nhà quản lý giáo dục.
Năm 1972 Ủy ban quốc tế do Thủ tướng Pháp chủ trì đã đưa ra báo cáo với tên gọi: “Sự tồn tại của học hội thế giới, giáo dục hôm nay và ngày mai” đã chính thức xác nhận tính pháp lý của tư tưởng HTSĐ không chỉ ở Pháp mà trên phạm vi quốc tế. Từ đó quan niệm HTSĐ ngày càng thâm nhập vào thực tiễn giáo dục của nhiều nước trên thế giới có nền giáo dục tiên tiến. Tại Hàn Quốc, Hội đồng của Tổng thống về cải cách giáo dục đã xuất bản cuốn sách “Hệ thống giáo dục mới” ngày 31 tháng 5 năm 1995, quan điểm cơ bản là xây dựng một xã hội giáo dục sống động và mở cửa. Hướng ưu tiên của chương trình cải cách là đa dạng hóa các loại hình giáo dục, tạo ra nhiều cơ hội giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân lựa chọn.
Từ đó thành lập Trung tâm đa phương tiện Quốc gia tạo điều kiện cho nhiều người dân được tiếp cận và các phương tiện thông tin hiện đại vào việc học tập của mình. Tại Nhật Bản, có thể nói đây là nước đi đầu trong việc triển khai tư tưởng HTSĐ và xây dựng XHHT. Ngay từ những năm 70 Nhật Bản đã công bố cuốn sách trắng, trong đó khẳng định: Nhật Bản đang đối diện với mục tiêu của việc cải cách giáo dục thế kỷ XXI: “Thực hiện một XHHT suốt đời”. Trong lĩnh vực triển khai XHHT, Nhật Bản cũng là nước đi đầu với hệ thống TTHTCĐ (KO-MIN-KAN).
Ở Việt Nam, Các nhà nghiên cứu cũng đã đề cập tới xu thế HTSĐ và xây dựng một XHHT. Có thể nêu một số trong các nhà nghiên cứu về vần đề này: Phạm Minh Hạc, Vũ Ngọc Hải [35,37,38], Nguyễn Vinh Hiển [45], Nguyễn Minh Đường [28,29], Phạm Tất Dong [11,12,13,14,16,17], Đặng Quốc Bảo [5], Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Ngọc Phú [58], Mai Văn Trang [68], Tô Bá Trượng [71], Nguyễn Hồng Sơn [62], Phạm Đỗ Nhật Tiến [66,67], Thái Xuân Đào [21], Bế Hồng Hạnh, 13 Nguyễn Hoàng Hải, Bùi Minh Hiền [44], Trần Khánh Đức, Nguyễn Tiến Đạt đã nhấn mạnh quan điểm, cơ sở lý luận về nền giáo dục hiện đại và XHHT suốt đời, những vấn đề cơ bản để xây dựng XHHT ở nước ta, quan niệm mới về việc học. Phạm Tất Dong đã đề cập đến nội dung phát triển các thiết chế giáo dục trên địa bàn xã, phường, thị trấn theo hướng xây dựng XHHT và những điều kiện để xây dựng XHHT ở xã, phường, thị trấn. Trong các năm 2004 và 2005, Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam và Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã tổ chức hai cuộc Hội thảo toàn quốc với chủ đề xây dựng XHHT ở Việt Nam.
Hội thảo đã thu hút rất nhiều nhà khoa học giáo dục và xã hội. Nhiều vấn đề cơ bản về tư tưởng HTSĐ và xây dựng XHHT ở Việt Nam đã được làm sáng tỏ như các khái niệm về HTSĐ về XHHT, cơ sở phương pháp luận của việc xây dựng XHHT, vai trò của XHHT trong thời đại mới, đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục để xây dựng XHHT. Cũng từ đây, vấn đề HTSĐ và xây dựng XHHT đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam đưa vào các nghị quyết của Đảng và chủ trương chính sách của Nhà nước. Về trung tâm học tập cộng đồng và quản lý phát triển bền vững trung tâm học tập cộng đồng Vào cuối thập kỷ 60, khi khoa học và công nghệ phát triển nhanh, hầu hết các nước trên thế giới đều nhận thấy hệ thống GDCQ không đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.
Xu hướng tập trung hoá, đô thị hoá giáo dục đã làm mất cân đối về trình độ dân trí và nguồn nhân lực giữa các vùng miền, cơ cấu ngành nghề,… Năm 1972, Edgar Faure [158 ] xuất bản cuốn sách “Học để tồn tại” đã làm xoay chuyển nhận thức về giáo dục, đặc biệt là giáo dục người lớn và đặt trong khuôn khổ “Giáo dục suốt đời”. Từ đó, các quan điểm khác nhau về GDSĐ, HTSĐ, XHHT được đưa ra bàn luận, nhiều nhà giáo dục lớn trên thế giới đã thấy cần thiết phải có quan niệm rộng hơn về giáo dục: Giáo dục người lớn, GDTX, giáo dục không chính quy phải được coi là một bộ phận chủ yếu, quan trọng cùng với nhà trường chính quy cung cấp cơ hội học tập suốt đời cho nhân dân. Giáo dục không chỉ là giai đoạn tức thời, chỉ diễn ra một lần, chỉ giới hạn ở độ 14 tuổi học sinh, sinh viên mà là một quá trình diễn ra liên tục trong suốt cả cuộc đời. Học tập suốt đời là một quá trình học tập có mục đích, có định hướng, không phải học tuỳ hứng, ngẫu nhiên.
Tuỳ theo nhu cầu của mỗi người mà có mục đích học riêng của mình: Học để biết, học để làm việc, học để cùng chung sống, để hoà nhập, học để tồn tại và học để khẳng định mình. Năm 2001, Hội Khuyến học Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học tại Gia Lâm, Hà Nội, là nơi có TTHTCĐ hoạt động tốt để phân tích đánh giá ưu, khuyết điểm của các loại hình thức học tập cộng đồng như TTHTCĐ, TT Khuyến học cộng đồng, TT Giáo dục cộng đồng.