chương 1, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung 2016 cho rằng: “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử”. Trong luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ báo mạng điện tử. Báo mạng điện tử là loại hình báo chí được xây dựng theo hình thức một website và phát hành dựa trên nền tảng internet. Điều khác biệt của báo mạng điện tử so với các loại hình báo chí khác là khả năng cập nhật tin tức thường xuyên, tức thời, đa phương tiện, đồng thời cho phép mọi người trên khắp thế giới tiếp cận tin tức đó mà không phụ thuộc vào không gian hay thời gian.
- Chuyên trang báo mạng điện tử: Tại Điều 3 Luật Báo chí 2016 đã nêu khái niệm về chuyên trang báo mạng điện tử: “Chuyên trang của báo điện tử là trang thông tin về một chủ đề 14 nhất định, phù hợp với tôn chỉ, Mục đích của báo điện tử, có tên miền cấp dưới của tên miền đã được quy định tại giấy phép hoạt động báo điện tử” [45] Theo Thông tư số 33/2011/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết việc cấp giấy phép hoạt động báo chí điện từ, giấy phép chuyên trang báo chí điện tử giải thích khái niệm: “Chuyên trang báo chí điện tử là trang thông tin điện tử thuộc báo, tạp chí điện tử có nội dung mang tính chuyên biệt phù hợp với tôn chỉ mục đích của báo, tạp chí điện tử đã được cấp phép”.[54] Chuyên trang báo mạng điện tử chứa đựng nhiều chuyên mục nhỏ, nhiều thể loại trình bày chuyên sâu như phỏng vấn, phóng sự, điều tra, phản ánh.đề cập tới một lĩnh vực cụ thể nào đó, mà mỗi sản phẩm báo chí đề cập đến những đề tài mới và khác nhau của lĩnh vực ấy. Đối với báo in, chuyên trang là công tác trình bày, biểu hiện nội dung mỗi mặt của từng trang báo. Đối với chuyên trang báo mạng điện tử có sự thể hiện phong phú, đa dạng về mặt hình thức và nội dung, bởi mỗi chuyên trang thường có một chủ đề riêng với phương thức phản ánh nhiều chiều của mỗi phóng viên, biên tập viên và thư ký toà soạn. Chuyên trang báo mạng điện tử đòi hỏi sự cố định một hình thức, ổn định mặt cấu tạo nội dung.
Chuyên trang cũng phải đảm bảo hoạt động trong chức năng, nhiệm vụ của mình, hoạt động theo tôn chỉ mục đích và phục vụ đúng đối tượng của mình. [14] Báo Pháp luật Việt Nam có rất nhiều chuyên trang khác nhau và có những tôn chỉ mục đích khác nhau như: Chuyên trang điện tử truyền hình Pháp luật Việt Nam, chuyên trang điện tử phapluatplus.vn, chuyên trang Sao pháp luật… Theo đó, tôn chỉ mục đích của Chuyên trang phapluatplus.vn sẽ là tuyên truyền, giáo dục pháp luật của Nhà nước; Thông tin về những hoạt động có liên quan của ngành tư pháp; Phản ánh tình hình thi hành pháp luật và ý kiến của nhân dân về pháp luật. 15 Cụ thể tháng 8/2021, chuyên trang phapluatplus.vn đã thông tin loạt tác phẩm về tình trạng ô nhiễm môi trường tại sông Cầu tỉnh Bắc Ninh. Loạt tác phẩm đã nêu những nguyên nhân, cách thức xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường của chính quyền địa phương tỉnh Bắc Ninh.
Đồng thời với những phân tích chuyên sâu của các chuyên gia về môi trường, đất đai sẽ có những góc nhìn mới đến Bộ Tài nguyên và Môi trường để trình Quốc hội có những hiệu chỉnh sửa đổi Luật môi trường. Chuyên trang báo mạng điện tử là trang thông tin điện tử thuộc báo điện tử, tạp chí điện tử nhưng có nội dung chuyên biệt phù hợp với tôn chỉ mục đích của báo điện tử, tạp chí điện tử được cấp phép. Ví dụ cụ thể, chuyên trang điện tử phapluatplus.vn thuộc báo điện tử Pháp luật Việt Nam và phù hợp với tôn chỉ mục đích của báo đó là tuyên truyền, giáo dục pháp luật của Nhà nước; Thông tin về những hoạt động có liên quan của ngành tư pháp; Phản ánh tình hình thi hành pháp luật và ý kiến của nhân dân về pháp luật. Quản lý và quản lý nội dung chuyên trang báo mạng điện tử 1.
Khái niệm quản lý, quản lý nội dung - Khái niệm quản lý Theo Từ điển tiếng Việt: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, ví dụ như quản lý hồ sơ, quản lý vật tư. Quản lý còn có nghĩa là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định, ví dụ như quản lý lao động, người quản lý”. Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế “phát triển”.
Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà 16 không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ thống sẽ phát triển không bền vững. Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường. Như vậy có thể hiểu: “Quản lý là một sự tác động liên tục, có kế hoạch, có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ đạo, liên kết các yếu tố cùng tham gia vào hoạt động tạo thành một chỉnh thể thống nhất, nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu và kết quả mà mình mong muốn”. Từ những quan điểm trên thì quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội.
Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý. Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan. Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượng quản lý càng cao. Ngay từ thời kỳ đầu của nhân loại con người đã sống thành cộng đồng để có thể chống lại thiên tai, địch hoạ.
Nhu cầu phát triển cộng đồng cần phải có sự hợp tác giữa các cá nhân để thực hiện công việc mà một người không thể thực hiện được. Từ đây đã xuất hiện hình thức tổ chức gắn kết giữa các cá nhân trong cộng đồng. Tuy nhiên muốn đạt được mục tiêu chung cần phải có sự phân công chức năng nhiệm vụ giữa các cá nhân. Những hoạt động đặc biệt này được gọi là quản lý.
Như vậy quản lý là một hoạt động tất yếu khách quan, diễn ra ở mọi tổ chức dù quy mô nhỏ hay lớn, có cấu trúc đơn giản hay phức tạp. Xã hội ngày càng phát triển trình độ hợp tác và phân công lao động ngày càng cao thì yêu cầu về công tác quản lý ngày càng phải hoàn thiện. 17 Quản lý ở đây có những đặc điểm chính là một hoạt động nhằm hướng tới mục tiêu đã định; thể hiện thông qua mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý và là mối quan hệ mang tính quyền uy; là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan; nếu xét về mặt công nghệ thì đó là sự vận động của thông tin. Khi bàn đến hoạt động quản lý và người quản lý cần khởi đầu từ khái niệm “tổ chức”.
Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này nên ở đây chúng ta chỉ nói đến tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó mà để đạt được mục đích gì đó một con người riêng lẻ không thể đạt đến. Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Từ những cách tiếp cận trên, có thể thấy quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định, thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Đó chính là mối quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
Trong nội dung quản lý, có thể xem xét phương pháp, quy trình, nguyên tắc quản lý tùy theo nhu cầu cần nhận thức và hoạt động thực tiễn. - Khái niệm quản lý nội dung “Nội dung” theo Triết học Mác - Lênin là tổng hợp tất cả những mặt những yếu tố quá trình tạo nên sự vật. Quản lý nội dung cũng có thể hiểu là nói tới quy trình và kỹ thuật hỗ trợ việc thu thập, quản lý và xuất bản thông tin. Thông tin báo chí bao gồm các tác phẩm báo chí như tin, bài phản ánh, phóng sự, điều tra… Với cách hiểu đã được đề cập bên trên thì quản lý nội dung chính là việc tác động có kế hoạch, có chủ đích của chủ thể quản lý tới các đối tượng quản lý nhằm cung cấp các tác phẩm báo chí đảm bảo chất lượng tới công chúng một 18 cách chính xác, nhanh chóng, bài bản, sinh động; vừa đáp ứng nhu cầu công chúng vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ của cơ quan báo chí.
Trong luận văn này, quản lý nội dung được nghiên cứu cụ thể bao gồm: quản lý kế hoạch sản xuất nội dung, quản lý quy trình sản xuất nội dung, quản lý chất lượng nội dung và quản lý phản hồi về nội dung. Chủ thể, đối tượng và phương pháp quản lý nội dung chuyên trang báo mạng điện tử 1. Khái niệm quản lý nội dung chuyên trang Như tác giả đã trình bày tại phần trên thì quản lý là một yếu tố khách quan của mọi quá trình lao động xã hội, bất kể dưới hình thái xã hội nào, quản lý cần thiết đối với mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội, là một yếu tố quan trọng và quyết định nhất đến sự phát triển của mỗi tổ chức, mỗi quốc gia.