CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC TRONG NGÀNH BẢO HIỂM 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Vấn đề quản lý nhân lực đã được đặt ra từ rất lâu ở trong và ngoài nước. Tuy nhiên, sự phức tạp vốn có khiến quản lý nhân lực luôn là vấn đề hóc búa cho các nhà nghiên cứu cũng như quản lý dù chỉ hướng tới mục tiêu duy nhất là nguồn nhân lực hoạt động hiệu quả mang lại tối đa hoá lợi nhuận cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau trong quản lý nhân lực.
Có thể kể ra một số nghiên cứu và luận văn về quản lý nhân lực nhưng được trình bày với nhiều tên gọi khác nhau như quản lý nhân lực, quản trị nguồn nhân lực, quản lý nhân lực… có liên quan tới hướng nghiên cứu của luận văn như sau: Đề tài cấp nhà nước do Phạm Thành Nghị làm chủ nhiệm nghiên cứu về hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình CNH-HĐH không chỉ xây dựng khung khổ lý luận về quản lý và sử dụng NNL mà còn đánh giá thực tiễn vấn đề trong bối cảnh thay đổi cơ chế quản lý tại Việt Nam. Các mô hình quản lý NNL được tổng kết trong đề tài là cơ sở lý thuyết rất quan trọng để chỉ ra các thành tố của quá trình quản lý NNL, các mối quan hệ ràng buộc trong một tổ chức và vai trò quan trọng của quản lý nhân lực. Các mô hình là gợi ý cho các nhà quản trị NNL ở mọi tổ chức có thể tham khảo và ứng dụng vào thực tiến. Ngoài ra, các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng NNL của đề tài cũng có giá trị cao cho các doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn phát triển (Phạm Thành Nghị, 2005).
Các đề tài nghiên cứu về công tác quản trị nhân lực tại một doanh nghiệp cụ thể được thực hiện rất nhiều tại các luận văn thạc sĩ. Ví dụ như: Luận văn thạc sĩ của Dương Đại Lâm (2012) nghiên cứu công tác quản trị nhân lực tại Viễn thông Bắc Giang. Với một đề tài nghiên cứu đầy đủ, tác giả cũng xác định khung lý luận nghiên cứu, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp cho Công ty Viễn thông Bắc 5 Giang. Những đề xuất của luận văn tập trung vào hoàn thiện công tác tuyển dụng, sắp xếp và đãi ngộ đội ngũ cán bộ với đặc thù của các doanh nghiệp cung cấp dịch ụ viễn thông.
Một luận văn khác của tác giả Vũ Văn Duẩn (2013) cũng nghiên cứu theo cách tiếp cận tương tự nhưng được thực hiện tại Công ty TNHH Trần Trung. Tại đây, các vấn đề lý thuyết về quản lý nhân lực trong doanh nghiệp được xác định và sử dụng để phân tích thực trạng tại một doanh nghiệp cụ thể. Các giải pháp hoàn thiện năng lực quản lý nhân sự của công ty được tác giả đề xuất có tính khả t hi cao nhưng không thể ứng dụng cho mọi doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp về dịch vụ tài chính với những đặc thù riêng. Nguyễn Thị Thu Phương (2014) thì lại làm rõ thực tiễn quản lý nhân lực với việc phân tích, đánh giá một cách chi tiết, cụ thể tại Công ty Cokyvina.
Hay luận văn thạc sĩ của Đào Thị Hoa (2015) lại chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong quản trị nhân lực của công ty Cổ phần truyền thông –Xây dựng HJC3. Các giải pháp đưa ra mặc dù khá chung chung nhưng cũng chỉ phù hợp để nâng cao hiệu quả quản trị nhân lực tại doanh nghiệp xây dựng. Những đề tài luận văn thạc sĩ khác về quản lý nguồn nhân lực được tìm thấy rất nhiều về các lĩnh vực khác nhau như “Quản lý nguồn nhân lực tại công ty TNHH MTV Thí nghiệm điện Miền Bắc” của tác giả Trần Xuân Tuấn (2015), “Quản lý nhân lực tại trung tâm nghiên cứu phát triển thiết bị mạng viễn thông Vietel” của tác giả Trần Nguyễn Dũng (2015), Nguyễn Việt Hà (2012) về “Hoàn thiện công tác QL NNL tại sân bay Nội Bài ”… Tất cả đều có chung một cách tiếp cận vấn đề khi phân tích về quản lý NNL. Những điểm mới duy nhất của các luận văn này là cố gắng xây dựng khung lý luận về quản lý nhân lực tại một ngành đặc thù và sau khi tìm ra các hạn chế trong công tác quản lý nhân lực tại một doanh nghiệp thì các giải pháp hướng tới việc giải quyết những vấn đề tại chính doanh nghiệp đó.
Khung khổ lý luận cũng được xây dựng trên một nền tảng chung gồm có những hoạt động cơ bản của quá trình quản lý nhân lực. 6 Mặc dù đề tài về quản lý nhân lực trong doanh nghiệp được rất nhiều các nhà nghiên cứu đề cập tới và không phải là vấn đề mới mẻ nhưng những nghiên cứu chuyên sâu về quản lý nhân lực trong doanh nghiệp ngành bảo hiểm lại rất hiếm hoi. Tác giả chỉ có thể tìm thấy một vài luận văn thạc sĩ như: “Quản lý hiệu quả nguồn nhân lực tại Công ty Bảo Việt Hải Dương” của Nguyễn Thành Công, luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh trường Đại học Thăng Long. Trong đó tác giả có phân tích thực tiễn vấn đề ở Công ty Bảo Việt Hải Dương nhưng cũng chưa xây dựng một khung lý luận đặc thù cho công tác quản lý nhân lực tại doanh nghiệp ngành bảo hiểm (Nguyễn Thành Công, 2014).
Hay luận văn “Giải pháp nâng cao công tác quản trị nhân lực tại Công ty bảo hiểm Aon Thành phố Hồ Chí Minh” của Hồng Thị Kim Phụng (2013), luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh trường Đại học Kinh tế - Luật, TP Hồ Chí Minh. Đề tài cũng chỉ tập trung chủ yếu về phân tích thực tiễn công tác quản trị nhân lực ở một doanh nghiệp bảo hiểm, hệ thống lý luận khá sơ sài chưa mang tính khái quát về quản lý nhân lực trong doanh nghiệp ngành bảo hiểm. Nguyễn Thị Thu Lý (2014) thì nghiên cứu về “Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Pjico chi nhánh Thanh Hóa, luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh trường Đại học Kinh tế Huế cũng có cách tiếp cận tươn g tự các luận văn thạc sĩ ở trên. Tác giả Bùi Minh Toàn (2015) đã thực hiện luận văn thạc sĩ của mình với đề tài “Hoàn thiện quản trị nguồn nhân lực tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Bến Tre”.
Luận văn nghiên cứu về công tác quản trị nguồn nhân lực nhưng chỉ hạn chế trong các cơ quan Bảo hiểm xã hội. Vì thế, tính đặc thù về quản trị nhân lực chung cho các doanh nghiệp ngành bảo hiểm chưa được thể hiện rõ ràng nhất là trong khung lý luận. Tuy nhiên, luận văn cũng đã phân tích khá đầy đủ các hoạt động quản trị nguồn nhân lực ở một cơ quan thuộc ngành bảo hiểm Các công trình nghiên cứu nêu trên có đóng góp giá trị nhất định về lý luận và thực tiễn. Đặc biệt, những công trình này đã tổng hợp, hình thành khung lý luận kinh điển, rõ ràng về quản lý nhân lực.
Mỗi công trình là một nghiên cứu cụ thể tại doanh 7 nghiệp. Chính vì vậy, những nghiên cứu này có giá trị ứng dụng cao trong từng trường hợp và mang lại gợi ý tham khảo rất tốt cho các nhà nghiên cứu khác về cùng lĩnh vực. Bên cạnh đó, mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra những cách nhìn khác nhau tuỳ thuộc vào quan điểm, nguyên tắc, cách thức kinh doanh của từng doanh nghiệp. Sự khác biệt lớn nhất giữa các nghiên cứu đến từ sự khác biệt về đặc thù hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Điều này khiến cho các nghiên cứu này tuy có chung khung lý luận thì cũng không giống nhau về phân tích thực tiễn. Mức độ ứng dụng kết quả nghiên cứu của các đề tài vì thế cũng khá hạn chế. Dịch vụ tài chính là một ngành dịch vụ mới mẻ nhưng có tốc độ phát triển rất lớn ở Việt Nam thời gian qua. Lĩnh vực cung cấp dịch vụ bảo hiểm nhân thọ có những đặc điểm riêng mà rất nhiều các doanh nghiệp khác không có.
Chính vì vậy, nhân lực của ngành bảo hiểm nhân thọ cũng có những yêu cầu riêng đòi hỏi việc nghiên cứu về quản lý nhân lực phải được thực hiện riêng chứ không thể sử dụng các nghiên cứu khác làm nền tảng. Đồng thời, theo tìm hiểu của tác giả, cho tới nay chưa có công trình nghiên cứu chính thức nào liên quan đến quản lý nhân lực ở Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ. Khoảng trống này đặt r a sự cần thiết phải có một nghiên cứu đặc thù không chỉ giúp Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ hoàn thiện quản lý nhân lực mà còn giúp cho các doanh nghiệp trong ngành bảo hiểm nhân thọ có một căn cứ khoa học phù hợp để quản lý và định hướng phát triển bền vững NNL của mình. Khái quát về nguồn nhân lực và quản lý nhân lực trong doanh nghiệp ngành bảo hiểm 1.
Khái niệm nguồn nhân lực và nhân lực ngành bảo hiểm 1. Khái niệm nguồn nhân lực và nhân lực Thuật ngữ nguồn nhân lực (hurman resourses) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi những người quản lý trong các tổ chức bắt đầu có nhận thức về vai trò trung tâm của người lao động trong nền kinh tế. Theo cách nhìn nhận chung, nguồn nhân lực không chỉ là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động như các quy định của các quốc gia mà bao gồm tất cả những người cung ứng sức lao động. 8 Nguồn nhận lực cũng được nghiên cứu rộng hơn ở cả khía cạnh số lượng, chất lượng và nhiều khía cạnh khác liên quan đến nguồn lực con người trong nền kinh tế.
Các nước thuộc khối Đông Âu trước đây cho rằng “nguồn nhân lực là nguồn lực con người, kể cả dưới dạng tiềm năng, dự trữ chưa khai thác thuộc độ tuổi lao động (nam từ 18 -60, nữ từ 18 -55) được tính cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, ngành.” Khái niệm này chỉ tập trung vào những người trong độ tuổi lao động nên còn chưa thực tế bởi chưa thể hiện đúng nguồn lực đang sử dụng cho nền kinh tế bao gồm toàn bộ dân cư có thể chất phát triển bình thường. Theo cách tiếp cận tổng quát về nguồn lực quốc gia, nguồn nhân lực được định nghĩa là “toàn bộ những người trong độ tuổi và có khả năng tham gia lao động” (ILO, 2003).