Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý về quản lý nhân lực trong các tổ chức công. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý nhân lực tại Cục An toàn thông tin. Chương 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhân lực tại Cục An toàn thông tin.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC TRONG CÁC TỔ CHỨC CÔNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đề tài về quản lý nhân lực là một trong những đề tài hết sức phổ biến và đã được nhiều người nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Tuy nhiên các nghiên cứu về quản lý nhân lực thường đề cập đến quản lý ở tầm vĩ mô, cho tỉnh, cho quốc gia. Hay chỉ tập trung vào quản lý nhân lực và giải pháp hoàn thiện quản lý nhân lực của tổ chức nói chung, hầu hết chưa có đề tài nào nghiên cứu riêng cho tổ chức cấp cục, đặc biệt là cho Cục An toàn thông tin.
Trong các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án có các tài liệu nổi bật sau: - Quản lý nhân lực ở tổ chức Nhật Bản và bài học kinh nghiệm cho doanh nhân Việt Nam (2008) của T.S Phạm Quý Long, tác giả đã hệ thống hoá và lý giải một cách hoàn chỉnh các nội dung cốt lõi của quản lý nhân lực trong các tổ chức Nhật Bản. Đồng thời rút ra một số bài học kinh nghiệm của Nhật Bản có thể vận dụng trong lĩnh vực quản lý nhân lực ở các tổ chức Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. - Khảo sát Thực Trạng Quản lý nhân lực Tại Việt Nam của NVM Group (2019) là khảo sát thường niên được công ty NVM Group phối hợp cùng các hiệp hội, cơ quan ban ngành và các đơn vị truyền thông triển khai kể từ năm 2019. Đây là một trong những hoạt động có định hướng xã hội của NVM Group nhằm mang lại những giá trị cho cộng đồng các tổ chức tại Việt Nam, thông qua đó đóng góp vào sự phát triển chung của toàn xã hội.
- Quản lý nhân lực trong khu vực nhà nước của tác giả Christian Batal do nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia biên soạn (2002) gồm 2 tập nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách có thêm tài liệu tham khảo về lĩnh vực quản lý với các phương pháp tổ chức điều hành hiện đại để sử dụng nhân lực có hiệu quả hơn, đồng thời thúc đẩy đổi mới, cải cách nền hành chính của mỗi quốc gia. Trong tập 1 tác giả đã làm sáng tỏ khái niệm quản lý nhân lực nói chung và khu vực nhà nước nói 4 riêng. Tập 2 cung cấp các bước thống kê nhân lực, thu nhập và phân tích dữ liệu, xây dựng phân tích các loại tháp tuổi; trình bày các nguyên tắc và phương pháp đánh giá nhân lực; đồng thời nghiên cứu việc quản lý dự báo công việc, năng lực và nhân lực để hoạch định chính sách và xây dựng mô hình quản lý nhân lực trong khu vực nhà nước. - Nâng cao hiệu quả quản lý nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Khoa học và xã hội (2006) của Phạm Thành Nghị (chủ biên), Trần Xuân Cầu, Trần Hữu Hân.
Các tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm tăng tính hiệu quả trong việc quản lý nhân lực ở Việt Nam. - Chất lượng nguồn nhân lưc những năm đầu thế ký XXI, NXB Lao động (2008) của Vương Ngọc Dũng. Tác giả đi sâu đánh giá chất lượng nhân lực trong các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước. - Nhân lực chất lượng cao – những khó khăn và thách thức, NXB Khoa học và xã hội (2008) của Lê Văn Mạc, Đại học Thương Mại.
Phát triển nhân lực là một đề tài đã được nhiều người chọn làm đề tài luận án như: - Luận án Tiến sỹ kinh tế: “Giài pháp nâng cao chất lượng nhân lực phục vụ nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Phan Thanh Tâm, năm 2000 – Đại học Kinh tế Quốc dân đã đi sâu nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Luận án Tiến sĩ kinh tế: Giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực trong tổ chức Nhà nước giai đoạn 2001 – 2006” của Lê Tiến Nghị, năm 2001 – Đại học Kinh tế quốc dân nghiên cứu chất lượng nhân lực trong phạm vi tổ chức nhà nước. - Luận án Tiến sỹ kinh tế: “Phát huy nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Mạnh Hoàng, năm 2009. - Nguyễn Tiến Minh với đề tài “Quản trị nguồn nhân lực tại Công ty TNHH MTV – Tổng công ty hợp tác kinh tế”, (2015). Luận văn cao học.
Tác giả đề cập thực trạng công tác quản trị nguồn nhân lực của Công ty trong giai đoạn 2012-2014. Đồng thời chỉ ra những nội dung của công tác quản trị nguồn nhân lực của Công ty. 5 Đây cũng là nội dung khá thích hợp đối với công tác quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp nói chung. - Nguyễn Văn Thuyết,“ Hoàn thiện công tác quản trị nhân lực ở Tổng công ty Cổ phần Đầu tư Quốc tế Viettel”, (2016).
Luận văn cao học. Đề tài khái quát cơ sở lý luận về quản trị nhân lực tại các doanh nghiệp trong cả nước, điều tra bằng phiếu phỏng vấn đánh giá thực trạng công tác quản trị nhân lực ở Tổng công ty Cổ phần Đầu tư Quốc tế Viettel còn yếu kém, từ đó tác giả đưa ra 7 giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nhân lực ở Tổng công ty Cổ phần Đầu tư Quốc tế Viettel. - Phạm Quang Thành, “Hoàn thiện công tác quản lý nhân lực tại Cục điều tra chống buôn lậu – Tổng cục Hải quan”, (2017). Luận văn cao học Trường Đại Học Lao Động Xã Hội.
Đề tài đã đánh giá hiện trạng quản trị nguồn nhân lực tại Cục, kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về lĩnh vực này. Từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, tuyển dụng, cơ cấu phân bổ nguồn nhân lực đảm bảo cho hoạt động của Cục đạt được những mục tiêu đề ra. Đề xuất các phương hướng, mục tiêu và các giải pháp đẩy mạnh quản lý nhân lực tại Cục trong bối cảnh hiện nay. Tóm lại, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn, luận án… đã cho thấy bức tranh khá đầy đủ và toàn diện cả lý luận và thực tiễn về quản lý nhân lực, về các giải pháp hoàn thiện và nâng cao quản lý nhân lực ở nhiều doanh nghiệp nước ta qua các thời kỳ.
Tuy nhiên, tại nước ta nói chung và tại các doanh nghiệp nói riêng, việc quản lý nhân lực là hết sức quan trọng và luôn đòi hỏi phải có tiếp cận mới để đẩy mạnh tăng trưởng, phát triển kinh tế của đất nước và của các doanh nghiệp. Đối với Cục An toàn thông tin – Bộ Thông tin và Truyền thông thì việc tìm ra các giải pháp để quản lý nhân lực là công việc trọng tâm hàng đầu. Tuy nhiên, các nghiên cứu nói trên tiếp cận, đánh giá vấn đề quản lý nhân lực tại các doanh nghiệp hay các lĩnh vực khác nhau mà chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể trọng tâm vào vấn đề nhân lực tại ngành An toàn Thông tin. Nhận thức được vấn đề đó, luận văn đã kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã đạt được đồng thời 6 luận giải chuyên sâu về vấn đề “Quản lý nhân lực tại Cục An toàn thông tin – Bộ Thông tin và Truyền thông”.
Cơ sở lý luận về quản lý nhân lực trong các tổ chức công 1. Các khái niệm có liên quan 1. Nhân lực Nhân lực là nguồn xuất phát từ trong chính bản thân của từng cá nhân con người. Nhân lực bao gồm thể lực và trí lực.
Nguồn lực này ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của con người. Khi nguồn lực đủ lớn nó sẽ đáp ứng các điều kiện để con người có thể tham gia vào lao động sản xuất. Mác đề cập tới vấn đề nhân lực với tư cách là con người trong quá trình sản xuất.Mác viết: "Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào" (C.Ăng-ghen toàn tập, 1993, trang 241). Theo đó, phương thức sản xuất là cách mà con người thực hiện việc sản xuất của cải, vật chất.
Lực lượng sản xuất có sự thống nhất cơ hữu giữa tư liệu sản xuất và người sử dụng tư liệu (nhân lực, yếu tố con người) để sản xuất ra của cải vật chất. Nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động (Nick Moore, 1980). Vậy, đối với một tổ chức, thì nhân lực được hiểu là con người với năng lực lao động, kinh nghiệm, kiến thức cần thiết thực hiện sứ mệnh, nhiệm vụ đề ra của tổ chức, duy trì sự phát triển và tồn tại của tổ chức đó. Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - Con người có sức lao động (Nguyễn Tấn Thịnh, 2003). Nhân lực trong tổ chức công là một bộ phận của nhân lực vì vậy “nhân lực trong tổ chức công” có các đặc trưng chung của nhân lực như đã nêu, ví dụ: là nguồn lực của con người trong xã hội, con người vừa là chủ thể vừa là đối tượng của nhân lực. 7 Để “quản lý nhân lực trong tổ chức công” cần áp dụng các biện pháp chung của phát triển nhân lực như: xây dựng kế hoạch, tuyển chọn, sử dụng, thu hút, đánh giá,… Tuy nhiên cũng có những mục tiêu, yêu cầu, nội dung, biện pháp riêng. Cơ quan nhà nước là tổ chức đặc thù, thực hiện nhiệm vụ, sứ mệnh được Nhà nước và Nhân dân giao phó.
Nhân lực của cơ quan QLNN là toàn thể cán bộ, công chức với năng lực hiện có và tiềm năng phát triển trong tương lai theo hướng đáp ứng yêu cầu chiến lược của tổ chức đó trong từng giai đoạn, thời kỳ phát triển.