phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhân lực trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhân lực tại Công ty Bảo hiểm BIDV Bắc Trung Bộ Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp quản lý nhân lực tại Công ty Bảo hiểm BIDV Bắc Trung Bộ 8 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Lý luận chung về nhân lực, quản lý nhân lực 1. Nhân lực và đặc điểm của nhân lực * Nhân lực: Nhân lực là sức lực con ngƣời, nằm trong m i con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời và đến một mức độ nào đó, con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con ngƣời có sức lao động [5].
Theo Hà Văn Hội (2008), nhân lực đƣợc hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con ngƣời đƣợc vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng đƣợc xem là sức lao động của con ngƣời – một nguồn lực quý giá nhất trong các yêu tố của sản xuất của các doanh nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong doanh nghiệp [13]. Nhân lực là tổng hợp toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực mà con ngƣời đã vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất [30].
Trong luận văn này, tác giả s dụng khái niệm: Nhân lực trong doanh nghiệp bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong doanh nghiệp, bao gồm số lƣợng, cơ cấu và chất lƣợng nguồn lực (thể lực, trí lực và tâm lực). * Đặc điểm nhân lực Nhân lực của một tổ chức hay một công ty bao gồm tất cả các nhân viên, ngƣời lao động làm việc cho tổ chức, công ty. Nhƣ vậy, một số đặc điểm của nhân lực đƣợc thể hiện qua các đặc điểm cơ bản của nhân viên và ngƣời lao động. - Theo Phạm Đức Chính (2006), lao động là hoạt động hữu ích của con 9 ngƣời nhằm sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cần thiết để thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân, của một nhóm ngƣời, của cả doanh nghiệp hoặc nói chung của toàn xã hội.
ao động sống nhƣ là nguồn sản xuất, tham dự vào quá trình sản xuất cùng với các yếu tố thiết yếu khác nhƣ máy móc, nguyên vật liệu, đất đai v. - ao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con ngƣời nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con ngƣời. Thực chất là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tƣ liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con ngƣời. Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế [18].
- ao động là hoạt động quan trọng nhất của con ngƣời, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. ao động có năng suất, chất lƣợng và hiệu quả cao là yếu tố quyết định sự phát triển của đất nƣớc. Lao động là hoạt động có ý thức, có mục đích của con ngƣời nhằm tách mình ra khỏi thế giới động vật đồng thời biết tận dụng quy luật của thiên nhiên để chinh phục lại thiên nhiên [18]. * Vai trò của nhân lực - Theo Hà Văn Hội (2008), nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp: Nguồn nhân lực đảm bảo mọi nguồn sáng tạo trong tổ chức.
Chỉ có con ngƣời mới sáng tạo ra các hàng hoá, dịch vụ và kiểm tra đƣợc quá trình sản xuất kinh doanh đó. Mặc dù trang thiết bị, tài sản, nguồn tài chính là những nguồn tài nguyên mà các tổ chức đều cần phải có, nhƣng trong đó tài nguyên nhân văn - con ngƣời lại đặc biệt quan trọng. Không có những con ngƣời làm việc hiệu quả thì tổ chức đó không thể nào đạt tới mục tiêu [13]. - Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lƣợc: Trong điều kiện xã hội đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, thì các nhân tố công nghệ, 10 vốn, nguyên vật liệu đang giảm dần vai trò của nó.
Bên cạnh đó, nhân tố tri thức của con ngƣời ngày càng chiếm vị trí quan trọng: Nguồn nhân lực có tính năng động, sáng tạo và hoạt động trí óc của con ngƣời ngày càng trở nên quan trọng [13]. - Nguồn nhân lực là nguồn lực vô tận: Xã hội không ngừng tiến lên, doanh nghiệp ngày càng phát triển và nguồn lực con ngƣời là vô tận. Nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con ngƣời [13]. Từ vai trò của nguồn nhân lực, rút ra vai trò và ý nghĩa của nhân lực đối với các tổ chức, công ty.
Nhân lực hay lao động là những ngƣời trực tiếp đem lại nguồn lợi cho các tổ chức, công ty giúp hoạt động của các tổ chức, công ty đƣợc duy trì và phát triển. Quản lý nhân lực * Quản lý: Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức [26]. Theo Phạm Quang Lê (2007), quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tƣợng một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất [20]. Quản lý là một hoạt động hay là một hình thức lao động đặc biệt, lấy các hoạt động cụ thể làm đối tƣợng để tác động tới nhằm phối kết hợp chúng lại thành một hợp lực từ đó tạo nên sức mạnh chung của một tổ chức.
Nói cách khác, quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của các thành viên trong tổ chức và s dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt đƣợc mục tiêu đặt ra [25]. 11 Qua các cách giải thích về quản lý của các tác giả trong và ngoài nƣớc, tuy có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau, song có thể hiểu khái niệm quản lý nhƣ sau: Quản lý là hệ thống những tác động có chủ định đến khách thể quản lý (đối tƣợng quản lý) nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của khách thể quản lý để đạt đến mục tiêu quản lý. * Quản lý nhân lực Quản lý nhân lực hay quản trị nhân sự là công tác quản lý các lực lƣợng lao động của một tổ chức, công ty, xã hội, nguồn nhân lực. Quản lý nhân lực đƣợc hiểu là những tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý nhân lực đến các khách thể quản lý nhân lực nhằm đạt đƣợc các mục tiêu quản lý nhân lực đã đề ra.
Quản lý nhân lực là lĩnh vực theo dõi, hƣớng dẫn, điều chỉnh, kiểm tra sự trao đổi chất (năng lƣợng, thần kinh, bắp thịt) giữa con ngƣời với các yếu tố vật chất của tự nhiên (công cụ lao động, đối tƣợng lao động, năng lƣợng.) trong quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần để thoả mãn nhu cầu của con ngƣời và xã hội nhằm duy trì, bảo vệ và phát triển tiềm năng của con ngƣời [13]. Theo Nguyễn Tấn Thịnh (2015), quản lý nhân lực đƣợc hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. Trong đó: Theo góc độ tổ chức lao động: quản lý nhân lực là lĩnh vực theo dõi, điều chỉnh và kiểm tra sự trao đổi chất giữa con ngƣời và thế giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho con ngƣời và xã hội; Theo góc độ khoa học quản lý: quản lý nhân lực là các hoạt động nhƣ hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra nhân lực trong các tổ chức; Theo góc độ nội dung cụ thể: Quản lý nhân lực là tuyển dụng, s dụng, duy trì và phát triển cũng nhƣ cung cấp các tiện nghi cho ngƣời lao động thông qua tổ chức [30]. Tổng quát nhất về quản lý nguồn nhân lực: quản lý nguồn nhân lực là 12 các hoạt động nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả các tổ chức nhằm tăng cƣờng những đóng góp có hiệu quả của m i cá nhân vào các mục tiêu của tổ chức trong khi đồng thời đạt đƣợc các mục tiêu của xã hội và của chính con ngƣời [30].
Từ đó, có thể hiểu quản lý nhân lực là khai thác, s dụng và khuyến khích nhân lực của một tổ chức, doanh nghiệp một cách hợp lý và hiệu quả nhằm tạo động lực, quyết tâm trong công việc đem lại hiệu quả cao trong công việc. Hiểu cách khác, quản lý nhân lực là quản lý các vấn đề cơ bản với nhân viên, phát huy năng lực của ngƣời nhân viên, ngƣời lao động, giữ lại và tặng thƣởng cho họ phù hợp với những công việc họ hoàn thành đối với tổ chức. theo tác giả, quản lý nhân lực là việc tuyển dụng, s dụng, duy trì và phát triển cũng nhƣ cung cấp các tiện nghi cho ngƣời lao động trong doanh nghiệp. * Đặc điểm quản lý nhân lực và vai trò của công tác quản lý nhân lực Đặc điểm cơ bản của quản lý nhân lực là một bộ phận của quản lý doanh nghiệp, quản lý nhân lực là quản lý doanh nghiệp ứng với yếu tố con ngƣời.
Đây là đặc điểm lớn nhất và chủ yếu nhất của quản lý nhân lực, chi phối toàn bộ đến các nội dung của quản lý nhân lực [33. Quản lý nhân lực với những vai trò khác nhau liên quan đến những khía cạnh khác nhau ảnh hƣởng đến ngƣời lao động, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức. Trong đó, có thể kể đến một vài vai trò chủ yếu của quản lý nhân lực nhƣ sau: Vai trò hành chính: phòng nhân sự vẫn cần phải quan tâm đến những công việc mang tính hành chính. Cán bộ quản trị nhân sự phải chịu trách nhiệm trong những công việc nhƣ bố trí lao động, phúc lợi, nghỉ lễ, nghỉ phép.
Cán bộ nhân sự phải thành thạo với vô số quy định, qui tắc, trình tự, quá trình 13 của cả trong nội bộ tổ chức và những luật lệ, qui định của chính phủ và các cơ quan liên quan.