Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆN TRỢ PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về viện trợ phi chính phủ nước ngoài 1. Khái niệm về viện trợ phi chính phủ nước ngoài 1. Khái niệm về phi chính phủ của các quốc gia, tổ chức quốc tế Thuật ngữ “tổ chức phi chính phủ” theo Tiếng Anh thường gọi là Non- Governmental Organization (viết tắt là NGO), theo tiếng Pháp là Organisation Non Gouverneme;ntale (viết tắt là ONG) chính thức xuất hiện lần đầu tiên tại Châu Âu vào đầu thế kỷ XX.
Cụm từ này sau đó đã được sử dụng phổ biến hơn từ khi tổ chức Liên hiệp quốc được thành lập vào năm 1945 [47,tr1]. - Theo tổ chức Ngân hàng thế giới (World Bank), các tổ chức PCP được xác định là những nhóm tổ chức tư nhân theo đuổi các hoạt động để giảm bớt đau khổ, thúc đẩy các lợi ích của người nghèo, bảo vệ môi trường, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản hay đảm nhiệm việc phát triển cộng đồng. Với cách sử dụng rộng rãi hơn thì thuật ngữ “tổ chức PCP” có thể áp dụng cho các tổ chức phi lợi nhuận mà hoạt động của chúng hoàn toàn hoặc phần lớn độc lập với chính phủ. Giá trị của các tổ chức PCP chủ yếu thể hiện qua hoạt động viện trợ từ thiện và các dịch vụ tình nguyện [47, tr1].
- Theo quan niệm của Liên hợp quốc, tổ chức PCP là các tổ chức phi lợi nhuận do các nhóm công dân tự nguyện lập ra ở quy mô địa phương, quốc gia hoặc quốc tế, tự gây quỹ và tự nguyện hoạt động theo nguyên tắc không kiếm lời. Điều này đồng nghĩa với việc hoạt động của các tổ chức PCP bảo đảm nguyên tắc: phi lợi nhuận, hỗ trợ, chia sẻ, cùng có lợi, dân chủ và tự nguyện [19,tr. Tóm lại, tổ chức PCP theo cách hiểu một cách phổ quát nhất là các tổ chức Hội, Quỹ văn hoá xã hội, Hội Từ thiện, các tổ chức phi vụ lợi, phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác theo luật pháp không thuộc khu vực nhà nước tham gia vào các 8 hoạt động hỗ trợ phát triển và hoạt động không vì lợi nhuận. Khái niệm tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam Thuật ngữ “tổ chức PCP” mới du nhập vào Việt Nam, lần đầu tiên được dùng trong Luật tổ chức Chính phủ năm 1992, song cho đến nay chưa có khái niệm chính thống về “tổ chức PCP”.
Tuy nhiên, trong các cuộc hội thảo khoa học, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đưa ra khái niệm theo những góc độ tiếp cận khác nhau, nhưng có nhiều ý kiến tập trung vào nội dung sau: Tổ chức phi chính phủ là một từ để chỉ chung cho các tổ chức đứng ngoài chính phủ, hoạt động song song và bổ trợ cho các chương trình KTXH của nhà nước. Tổ chức PCP quy tụ những người tự nguyện hoạt động vì lợi ích của người khác, tức là vì tổ chức nhân dân và các cộng đồng, không phải vì bản thân và hoạt động phi lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật dưới sự quản lý của nhà nước. Việt Nam là một quốc gia đang trên con đường đổi mới, việc phát huy tận dụng các nguồn lực để phát triển là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước. Trong đó, nguồn lực phát huy sức mạnh toàn dân, thực hiện xã hội hoá và tận dụng sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè, các tổ chức trên thế giới là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tính chất của các tổ chức phi chính phủ Tuỳ theo tên gọi khác nhau, các tổ chức PCP cũng có những đặc trưng và tính chất riêng của mình. Tuy nhiên, hầu hết các tổ chức PCP đều có một số tính chất chính như sau: Tính xã hội: Tổ chức PCP chỉ xuất hiện từ khi con người có ý thức về sức mạnh tập thể, sức mạnh của sự hợp tác với nhau giữa các nhóm người, các cộng đồng người. Khi xã hội càng phát triển, dân chủ trong xã hội càng được nâng cao thì tính năng động, tích cực của con người càng được nâng cao, thúc đẩy nhu cầu gắn bó với nhau trong một tổ chức hoà hợp tâm lý, hoà hợp lợi ích. Những tác động đó khiến tính xã hội của các tổ chức PCP càng đậm nét hơn.
Tính tự nguyện: Hầu hết các tổ chức PCP hình thành dựa trên sự tự nguyện 9 tham gia của các thành viên và hoạt động cũng dựa theo nguyên tắc này. Tính tự nguyện được thể hiện qua việc các thành viên tự giác thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức mà thường không đòi hỏi bất kỳ điều kiện nào. Sự tự nguyện thể hiện qua hình thức đóng góp về thời gian, công sức hay về của cải vật chất. Tính tự nguyện của các tổ chức PCP bền vững tới mức nó trở thành một trong những nguyên tắc hoạt động nội bộ và quan hệ đối ngoại của các tổ chức PCP.
Tính độc lập: Các tổ chức PCP thường được hình thành và hoạt động mang tính độc lập tương đối với Chính phủ. Chúng tuy được cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận nhưng lại không lệ thuộc vào các cơ quan đó và hoạt động theo sự quản lý điều hành của những người sáng lập nên; họ tự trang trải về kinh phí trên nguyên tắc độc lập với chính phủ và nằm trong khuôn khổ chung của xã hội. Tính phi lợi nhuận: Mục đích hoạt động của các tổ chức PCP không phải vì tìm kiếm lợi nhuận và đây cũng là điểm nổi bật của các tổ chức PCP so với các tổ chức khác. Mặc dù, để tồn tại, có một số tổ chức PCP thực hiện các hoạt động kinh doanh có thu lợi nhuận, nhưng các khoản lợi nhuận đó dùng để duy trì và phát triển tổ chức theo mục đích tôn chỉ khi thành lập và thực hiện các mục tiêu tổ chức đã đề ra chứ không phải chia cho các thành viên hay để phục vụ cho tổ chức.
Tính linh hoạt và đa dạng: Trong khi bộ máy của các cơ quan nhà nước thường rất cồng kềnh, nhiều tầng nấc và theo quy định chặt chẽ thì các tổ chức PCP lại thường có hình thức tổ chức bộ máy rất đa dạng, nhỏ gọn và hoạt động linh hoạt tuỳ theo đặc thù riêng của mình. Bên cạnh đó, các tổ chức PCP thường có nguồn gốc, cách thức và lĩnh vực hoạt động, tôn chỉ, mục đích và cả cách huy động nguồn ngân sách hoạt động rất đa dạng và không theo một khuôn mẫu chung nhất định nào. Khái niệm về viện trợ phi chính phủ nước ngoài Ở Việt Nam, viện trợ phi chính phủ nước ngoài được hiểu là viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, các tổ chức, các cá nhân nước ngoài khác, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có thiện chí cung cấp viện trợ không hoàn lại, không vì mục đích lợi nhuận nhằm hỗ trợ các mục tiêu nhân đạo và hỗ trợ các dự án xã hội, xây dựng kinh tế tại Việt Nam [13, tr2]. Hoạt động viện trợ phi chính phủ nước ngoài Hoạt động viện trợ PCPNN hiện nay ở nhiều lĩnh vực và thông qua nhiều hình thức: - Viện trợ thông qua các chương trình, dự án + “Chương trình viện trợ”: là một tập hợp các hoạt động, các dự án có liên quan đến nhau và có thể liên quan đến một hoặc nhiều ngành, lĩnh vực, nhiều vùng lãnh thổ, nhiều chủ thể khác nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu xác định, có thời hạn thực hiện trung hoặc dài hạn hoặc theo nhiều giai đoạn, và nguồn lực để thực hiện có thể được huy động từ nhiều nguồn ở những thời điểm khác nhau, với nhiều phương thức khác nhau.
+ “Dự án”: là một tập hợp các hoạt động liên quan đến nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu xác định, được thực hiện trong một thời gian nhất định, dựa trên những nguồn lực xác định. Dự án bao gồm: dự án đầu tư (là dự án tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định) và dự án hỗ trợ kỹ thuật (có mục tiêu hỗ trợ phát triển năng lực và thể chất hoặc cung cấp các yếu tố đầu vào kỹ thuật để chuẩn bị và thực hiện các chương trình, dự án thông qua các hoạt động cung cấp chuyên gia, đào tạo, hỗ trợ trang thiết bị, tư liệu và tài liệu, tham quan khảo sát, hội thảo). - Viện trợ phi dự án: bao gồm các khoản viện trợ không phải là chương trình, dự án được cung cấp dưới dạng hiện vật, tiền hoặc chuyên gia (kể cả chuyên gia tình nguyện). - Viện trợ khẩn cấp: bao gồm các khoản viện trợ thuộc viện trợ phi dự án được thực hiện khẩn trương ngay sau khi xảy ra các trường hợp khẩn cấp (thiên tai hoặc tai hoạ khác) và kéo dài tối đa là 3 tháng sau khi các trường hợp khẩn cấp chấm dứt.
Sau thời hạn trên, nếu khoản cứu trợ này vẫn được tiếp tục thì được coi là viện trợ khắc phục hậu quả sau khẩn cấp và được phê duyệt, thực hiện theo chương trình và thủ tục quy định thông thường đối với khoản viện trợ PCPNN. Khái niệm, đặc điểm của quản lý nhà nước về viện trợ phi chính phủ nước ngoài 1. Quản lý Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhà nghiên cứu Laurence Lowell nhận xét: “Quản lý là nghiệp xưa nhất và là nghề mới nhất”. Quản lý gồm hai quá trình đan kết vào nhau một cách chặt chẽ là duy trì và phát triển.
Hai quá trình này vừa giữ được thực thể tồn tại một cách độc lập vừa tạo cho nó vận động phát triển. Nếu ta chỉ quan tâm duy trì sự tồn tại của tổ chức thì khi môi trường thay đổi, tổ chức sẽ bị lạc lỏng, trì trệ và đổ vỡ. Nếu chỉ lo thúc đẩy tổ chức phát triển mà không quan tâm duy trì, thì tổ chức dễ gặp phải rủi ro trên bước đường phát triển hoặc không có sức phát triển. Nhìn nhận về quản lý đầy đủ như vậy giúp cho các nhà quản lý hoạch định được bước đi hợp lý cho một tổ chức, giúp cho tổ chức tồn tại để phát triển hoặc phát triển trên cơ sở tồn tại.