Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam là một quốc gia có trên 70% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn và nguồn sinh kế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế tập thể (KTTT) mà nòng cốt là các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao đời sống nông dân. Huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang sở hữu tổng diện tích đất tự nhiên là 63.936 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm tới 91,5% (tương đương 58.536 ha) và diện tích chuyên trồng lúa đạt 49.501 ha (chiếm 77,4%). Mặc dù tổng giá trị sản xuất toàn huyện đạt 8.885 tỷ 472 triệu đồng và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 10,32%/năm, mô hình kinh tế nông hộ tại địa phương vẫn bộc lộ nhiều hạn chế về quy mô manh mún, thiếu vốn và sức cạnh tranh nông sản chưa cao.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào việc làm rõ những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý nhà nước (QLNN) đối với các loại hình KTTT nông nghiệp cấp huyện. Mục tiêu cụ thể là phân tích thực trạng quản lý từ khi Luật Hợp tác xã năm 2012 có hiệu lực đến nay, từ đó xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền địa phương. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 19 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn thuộc huyện Giồng Riềng trong khung thời gian từ năm 2013 đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước, hỗ trợ khu vực nông nghiệp chiếm 58,71% cơ cấu kinh tế huyện phát triển ổn định và nâng cao mức thu nhập bình quân đầu người vượt mức 40,94 triệu đồng/năm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và lý thuyết kinh tế hợp tác hiện đại. Quản lý nhà nước về kinh tế tập thể trong nông nghiệp được xác định là sự tác động có chủ đích, có tổ chức bằng quyền lực pháp lý của cơ quan công quyền nhằm định hướng, kiến tạo môi trường và hỗ trợ các tổ chức hợp tác phát triển bền vững. Khung lý thuyết tập trung vào 4 khái niệm then chốt: Quản lý nhà nước cấp huyện, Tổ hợp tác thành lập trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của UBND cấp xã với tối thiểu 3 thành viên theo Nghị định 151/2007/NĐ-CP, Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể đồng sở hữu có tư cách pháp nhân với quy mô tối thiểu từ 7 thành viên theo Luật Hợp tác xã năm 2012 và Nghị định 193/2013/NĐ-CP, cùng chủ thể Kinh tế nông hộ. Mô hình quản lý nhà nước cấp huyện được tiếp cận toàn diện qua 6 nội dung cơ bản: phổ biến thực thi văn bản pháp luật, kiện toàn bộ máy tổ chức, hướng dẫn đăng ký kinh doanh, đào tạo nguồn nhân lực, tuyên truyền vận động và thanh tra giám sát hoạt động.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng quy trình kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp định tính và định lượng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của UBND huyện Giồng Riềng, số liệu niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang và dữ liệu của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam bao quát 10.446 HTX nông nghiệp trên phạm vi toàn quốc. Đối với dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát thực địa với cỡ mẫu gồm 150 đối tượng, bao gồm 30 cán bộ chuyên trách công tác QLNN tại Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài chính - Kế hoạch, UBND các xã cùng 120 cán bộ quản trị và xã viên thuộc các HTX nông nghiệp trên địa bàn. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho cả vùng đất phù sa không nhiễm phèn (chiếm 58,8% diện tích) và vùng đất nhiễm phèn (chiếm 34,5% diện tích). Các phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm và tổng hợp thực tiễn được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác hiệu quả can thiệp chính sách, chỉ rõ các điểm nghẽn hành chính và đánh giá khách quan mức độ phát triển của các tổ chức hợp tác tại địa phương.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, quy mô hoạt động của các tổ chức KTTT trên địa bàn huyện Giồng Riềng còn nhỏ lẻ và chưa tương xứng với tiềm năng của vùng sản xuất lúa trọng điểm có diện tích 49.501 ha. Mặc dù ngành nông nghiệp đóng góp tới 58,71% trong tổng giá trị sản xuất 8.885 tỷ 472 triệu đồng của toàn huyện, phần lớn các HTX nông nghiệp chỉ cung ứng từ 1 đến 2 khâu dịch vụ cơ bản như tưới tiêu hoặc làm đất. Các dịch vụ mang lại giá trị gia tăng cao như cung ứng giống, chế biến và bao tiêu sản phẩm đầu ra chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn dưới 15% tổng doanh thu của các HTX.
Thứ hai, công tác kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước cấp huyện và cấp xã còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn về chất lượng chuyên môn. Có tới trên 65% cán bộ phụ trách theo dõi KTTT tại các xã phải kiêm nhiệm nhiều đầu việc chuyên môn khác, dẫn đến tình trạng chậm trễ trong việc hướng dẫn thủ tục đăng ký kinh doanh và hỗ trợ tiếp cận chính sách ưu đãi. Tỷ lệ các HTX nông nghiệp trên địa bàn tiếp cận được nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn từ Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX mới chỉ đạt khoảng 25% đến 30%.
Thứ ba, việc triển khai các chính sách hỗ trợ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và xây dựng chuỗi liên kết giá trị theo tinh thần Luật Hợp tác xã năm 2012 chưa đạt hiệu quả đồng đều. Mô hình Cánh đồng lớn và các quy trình canh tác tiến bộ như 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm mới chỉ bao phủ khoảng 40% diện tích đất sản xuất lúa. Trong khi đó, các mô hình sản xuất nông nghiệp kết hợp nuôi trồng thủy sản mang lại lợi nhuận cao từ 110 đến 350 triệu đồng/ha vẫn phát triển phân tán, thiếu sự định hướng quy hoạch tập trung từ phía chính quyền địa phương.
Thảo luận kết quả
Thực trạng quản lý nhà nước tại huyện Giồng Riềng phản ánh sự lúng túng giữa việc chuyển đổi phương thức quản lý hành chính sang kiến tạo môi trường kinh doanh cho khu vực kinh tế tập thể. Khi đối chiếu với kinh nghiệm của tỉnh Đồng Tháp - địa phương đã kiên quyết giải thể 17 HTX yếu kém và thực hiện hợp nhất các đơn vị nhỏ lẻ thành HTX quy mô vốn 10 tỷ đồng như HTX Phước Tiền với 8 lĩnh vực dịch vụ, có thể thấy công tác rà soát và tái cơ cấu HTX tại Giồng Riềng còn mang tính hình thức. Tương tự, bài học từ tỉnh An Giang cho thấy việc liên kết bốn nhà và mở rộng dịch vụ tưới tiêu phục vụ trên 88% diện tích như tại huyện Phú Tân đã giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất, gia tăng thêm khoảng 2,5 triệu đồng lợi nhuận/ha/vụ cho hộ nông dân.
Trong quá trình phân tích thực trạng, dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua bảng so sánh các chỉ tiêu tài chính, hiệu quả chi phí trước và sau khi tham gia HTX, hoặc biểu đồ cột mô tả sự biến động của cơ cấu kinh tế huyện qua các mốc thời gian. Sự tác động của quản lý nhà nước cần được duy trì ở mức độ hợp lý, tôn trọng quyền tự chủ hoạt động của HTX, đồng thời xóa bỏ triệt để các rào cản hành chính gây cản trở quyền tự quyết nội bộ về phương án sản xuất và phân phối thu nhập.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước và tạo động lực cho kinh tế tập thể nông nghiệp huyện Giồng Riềng phát triển bền vững, hệ thống 4 nhóm giải pháp trọng tâm cần được thực hiện:
Thứ nhất, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ công chức chuyên trách. UBND huyện Giồng Riềng cần phân công cán bộ chuyên trách công tác quản lý KTTT có trình độ đại học chuyên ngành kinh tế hoặc quản lý công tại 100% các xã, thị trấn trong giai đoạn 2021-2023. Chủ thể thực hiện là Phòng Nội vụ phối hợp cùng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện.
Thứ hai, chuẩn hóa công tác đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ quản trị HTX. Trung tâm Chính trị huyện phối hợp với Liên minh Hợp tác xã tỉnh Kiên Giang tổ chức định kỳ từ 10 đến 15 lớp tập huấn chuyên sâu mỗi năm cho hơn 400 lượt cán bộ quản lý HTX và hộ nông dân nòng cốt, hướng tới mục tiêu đến năm 2025 có trên 70% cán bộ quản trị HTX đạt trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên.
Thứ ba, mở rộng các cơ chế hỗ trợ tài chính, tín dụng và chuyển giao công nghệ. UBND huyện chỉ đạo các ngân hàng thương mại và Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX ưu tiên giải ngân nguồn vốn trên 20 tỷ đồng cho các dự án ứng dụng công nghệ tưới tiêu tự động, sản xuất lúa đạt tiêu chuẩn VietGAP. Phấn đấu đến năm 2025 nâng tỷ lệ HTX hoạt động hiệu quả và có hợp đồng bao tiêu nông sản lên trên 80%.
Thứ tư, tăng cường hiệu lực thanh tra, kiểm tra và bảo đảm tính minh bạch pháp lý. Thanh tra huyện chủ trì phối hợp với các phòng ban chuyên môn thực hiện kiểm toán, kiểm tra định kỳ 100% các HTX trên địa bàn hàng năm, kiên quyết xử lý dứt điểm các tồn đọng tài chính và giải thể bắt buộc các tổ chức ngừng hoạt động theo đúng quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, đội ngũ lãnh đạo và cán bộ công chức thuộc UBND huyện Giồng Riềng, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài chính - Kế hoạch và UBND các xã, thị trấn. Luận văn cung cấp khung phân tích thực tiễn để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chuẩn hóa quy trình thẩm định hồ sơ thành lập và triển khai các gói chính sách ưu đãi phù hợp với đặc thù 91,5% đất nông nghiệp của huyện.
Thứ hai, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc các HTX, Ban điều hành các Tổ hợp tác nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu gợi mở các giải pháp tái cấu trúc quản trị, mở rộng chuỗi cung ứng dịch vụ tổng hợp từ làm đất đến tiêu thụ nông sản, hỗ trợ nâng mức doanh thu bình quân từ vài trăm triệu lên trên 1,5 đến 2 tỷ đồng mỗi năm.
Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công, Kinh tế nông nghiệp. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo giá trị trong công tác giảng dạy môn Quản lý nhà nước về kinh tế, cung cấp một nghiên cứu tình huống điển hình về đổi mới mô hình hợp tác xã tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Thứ tư, các doanh nghiệp thu mua chế biến nông sản và các tổ chức tín dụng. Tài liệu cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng phân bổ nguồn lực, tiềm năng sản xuất lúa trên diện tích 49.501 ha và nhu cầu vốn vay của các hợp tác xã, từ đó thiết lập các liên kết chuỗi giá trị và chương trình cung cấp tín dụng an toàn, hiệu quả.
Câu hỏi thường gặp
Quản lý nhà nước đối với kinh tế tập thể nông nghiệp cấp huyện có điểm gì khác biệt so với quản lý sản xuất kinh doanh nội bộ của HTX?
Quản lý nhà nước cấp huyện mang tính quyền lực công, tập trung vào việc hoạch định, ban hành văn bản hướng dẫn, hỗ trợ tiếp cận nguồn lực và thanh tra tuân thủ pháp luật. Ngược lại, quản lý sản xuất kinh doanh của HTX là hoạt động tự chủ kinh tế của các thành viên, tự chịu trách nhiệm tài chính trong phạm vi vốn điều lệ và tự quyết định phương án kinh doanh theo nguyên tắc bình đẳng một phiếu biểu quyết.
Luật Hợp tác xã năm 2012 quy định những điều kiện cốt lõi nào khi thành lập một HTX nông nghiệp mới?
Theo quy định tại Điều 3 Luật Hợp tác xã năm 2012, HTX nông nghiệp phải có tối thiểu 7 thành viên tự nguyện tham gia, có tư cách pháp nhân, hoạt động trên cơ sở tự chủ và tự chịu trách nhiệm. Các thành viên phải cùng đóng góp vốn điều lệ, có nhu cầu sử dụng dịch vụ chung và xây dựng Điều lệ tổ chức hoạt động phù hợp với khung pháp luật trước khi đăng ký kinh doanh tại cấp huyện.
Chính quyền huyện Giồng Riềng có thể vận dụng kinh nghiệm sáp nhập HTX từ tỉnh Đồng Tháp ra sao?
UBND huyện có thể rà soát và định hướng sáp nhập các HTX quy mô nhỏ dưới 100 ha thành các tổ chức quy mô lớn tương tự HTX Phước Tiền của Đồng Tháp với số vốn 10 tỷ đồng. Việc tích tụ diện tích sản xuất từ 300 đến 500 ha giúp tối ưu hóa chi phí quản lý, thuận lợi cho cơ giới hóa đồng bộ và mở rộng từ 1 dịch vụ tưới tiêu lên 8 lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp đa dạng.
Làm thế nào để các HTX nông nghiệp tại địa phương tiếp cận hiệu quả nguồn vốn từ Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX?
Cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện cần tổ chức các lớp tập huấn hướng dẫn lập phương án sản xuất kinh doanh khả thi, chuẩn hóa hệ thống sổ sách kế toán tài chính minh bạch. Khi đáp ứng đầy đủ hồ sơ pháp lý và chứng minh được năng lực sử dụng vốn, các HTX sẽ thuận lợi tiếp cận các khoản vay ưu đãi trung và dài hạn để đầu tư kho bãi bảo quản và máy móc chế biến nông sản.
Mô hình canh tác tiến bộ 1 phải 5 giảm mang lại giá trị kinh tế cụ thể nào cho hộ nông dân thành viên?
Chương trình kỹ thuật này giúp nông dân giảm lượng giống gieo sạ, giảm lượng phân bón hóa học, giảm thuốc bảo vệ thực vật, giảm nước tưới và giảm thất thoát sau thu hoạch. Ứng dụng mô hình giúp giảm từ 15% đến 20% chi phí đầu vào, mang lại mức lợi nhuận tăng thêm khoảng 2,5 triệu đồng/ha mỗi vụ lúa cho các thành viên tham gia liên kết.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với kinh tế tập thể nông nghiệp cấp huyện, xác lập rõ ranh giới giữa quản lý công quyền và quyền tự chủ kinh doanh của HTX.
- Phân tích toàn diện thực trạng phát triển KTTT tại huyện Giồng Riềng trên quy mô 58.536 ha đất nông nghiệp, chỉ rõ những thành tựu tăng trưởng 10,32% cùng những hạn chế về chất lượng dịch vụ và năng lực bộ máy quản lý.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao, phân định rõ trách nhiệm, định mức chỉ tiêu và lộ trình thực hiện cho từng cơ quan quản lý nhà nước từ cấp huyện đến cấp xã trong giai đoạn 2021-2025.
- Đúc kết các bài học kinh nghiệm quản lý thực tiễn từ các tỉnh Đồng Tháp, An Giang và Hậu Giang để ứng dụng phù hợp với đặc thù sản xuất lúa hàng hóa tại địa phương.
- Kính mời các nhà quản lý, các chuyên gia học thuật và các tổ chức kinh tế tập thể đón đọc toàn văn công trình nghiên cứu để cùng thảo luận và đóng góp các sáng kiến hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về nông nghiệp nông thôn.