CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LIÊN KẾT KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THỦ ĐÔ VÀ MỘT SỐ TỈNH PHỤ CẬN 1. Khái niệm phát triển LKKTNN thủ đô và một số tỉnh phụ cận 1. Khái niệm phát triển LKKT theo vùng Theo ngôn ngữ Latinh “liên kết kinh tế” được viết: “Intergration” hiểu là sự kết hợp, hòa hợp, hợp nhất. Trong đề tài cấp nhà nước của giáo sư Hoàng Kim Giao về “ Liên kết kinh tế” cho rằng: “Có thể hiểu LKKT là một pham trù kinh tế phản ánh các mối quan hệ kinh tế về hiệp tác, liên doanh, liên hiệp hóa trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh của quá trình tái sản xuất xã hội giữa các ngành kinh tế, giữa các cơ sở sản xuất kinh doanh, giữa các vùng kinh tế và các địa phương, giữa các thành phần kinh tế trong nước và các nước với nhau nhằm phát triển hơn nữa sức sản xuất và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn”.
Quyết định 38/HĐBT ngày 10/4/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về LKKT trong sản xuất, lưu thông,… ghi: “LKKT là những hình thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh của mình, nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng có lợi nhất”. Từ các quan niệm trên có thể hiểu: Phát triển LKKT là phát triển các hình thức phối hợp giữa hai hay nhiều chủ thể quản lý kinh tế trong quá trình hoạt động kinh tế nhiều hơn cho tất cả các bên tham gia. Mục tiêu của phát triển LKKT là nhằm phát huy các lợi thế, đồng thời bù đắp những hạn chế/ thiếu hụt của các bên tham gia thông qua việc phối hợp hoạt động giữa các đối tác. Phát triển LKKT diễn ra có thể hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các quốc gia, các vùng kinh tế, các địa phương, các ngành kinh tế hay các doanh nghiệp, không phân biệt chế độ chính trị, hình thức sở hữu hoặc quy mô lớn hay nhỏ.
Vì vậy, có thể phân biệt chủ thể kinh tế theo 2 cấp độ: Chủ thể theo địa phương, vùng lãnh thổ Luan van 10 và chủ thể kinh tế trực tiếp (hộ, doanh nghiệp,…). Có thể nói rằng, dù ở đâu, lúc nào, nếu có sự khác biệt nhau về lợi thế so sánh giữa các đối tác thì ở đó xuất hiện nhu cầu và khả năng của sự liên kết kinh tế. Như vậy, phát triển LK giữa các vùng KT, hay giữa các địa phương (gọi chung là phát triển LKKT vùng) là thiết lập các mối quan hệ kinh tế giữa các vùng (hay địa phương) với nhau trên nguyên tắc, các bên cùng tăng cường được lợi ích kinh tế của mình thông qua việc phối hợp hoạt động. Ở tầm vĩ mô, phát triển LKKT thể hiện thông qua việc thiết lập các liên minh kinh tế giữa các quốc gia, địa phương hoặc vùng lãnh thổ để hình thành nên các định chế khu vực ở các mức độ khác nhau.
Chính việc liên kết này đã giúp xác lập các không gian kinh tế rộng lớn hơn an toàn hơn cho các hoạt động kinh tế của mỗi đối tác tham gia trên cơ sở của sự phân công và hợp tác lao động trong liên minh. Liên kết ở tầm vĩ mô là tiền đề tốt để thúc đẩy phát triển LKKT ở tầm vi mô, tầm doanh nghiệp. Cho dù là liên kết ở tầm nào đi nữa, thì mục đích suy nhất của nó cũng là tiết kiệm chi phí và hạn chế nhờ hạn chế cạnh tranh và phát huy hiệu quả theo quy mô 1. Khái niệm phát triển LKKTNN theo vùng Phát triển LKKT nông nghiệp theo vùng có phạm vi hẹp hơn phát triển LKKT theo vùng về nội dung của các ngành, lĩnh vực liên kết.
Nếu liên kết kinh theo vùng là sự liên kết rộng của tất cả các ngành, còn phát triển LKKT ở ngành kinh tế thì phát triển LKKT nông nghiệp chỉ diễn ra trong ngành nông nghiệp (theo nghĩa rộng hoặc theo nghĩa hẹp), nhưng ở phạm vi ngành hàng nông sản. Với phân tích đó, có thể hiểu: phát triển LKKT nông nghiệp theo vùng là mối quan hệ liên kết trong cơ chế chính sách… trong vùng hướng tới mục tiêu triển khai các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp tạo ra của cải cho xã hội, mang lại hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường. Nông nghiệp là ngành có nhiều đặc điểm có tính đặc thù, trong đó đặc điểm về hoạt động diễn ra trên không gian rộng là những đặc điểm chi phối đến quá trình phát triển LKKT nông nghiệp theo vùng và đào tạo nên những đặc điểm Luan van 11 khác biệt của liên kết nông nghiệp theo vùng so với sự liên kết theo vùng của các ngành khác theo cùng không gian, trong cùng những đk. Đặc điểm nổi bật của phát triển LKKT nông nghiệp theo vùng phụ cận là tính chất liên kết chặt chẽ, nhất là trong điều kiện của sản xuất nông nghiệp hàng hóa.
Tính chất chặt chẽ của phát triển LKKT nông nghiệp vùng phụ cận vì sự giao thương nông sản, với tính chất là các sản phẩm tươi sống. Nếu sự phối hợp giữa các chủ thể không chặt chẽ sẽ làm cho chất lượng sản phẩm bị giảm sút, an toàn vệ sinh thực phẩm bị vi phạm. Đặc biệt, từ những đặc điểm có tính đặc thù trên đòi hỏi sự liên kết không chỉ ở các chủ thể kinh tế trực tiếp mà đòi hỏi sự vào cuộc mạnh mẽ và kiên quyết, với sự hỗ trợ toàn diện phát triển LKKT để trở thành sự liên kết. Khái niệm phát triển LKKT nông nghiệp thủ đô và một số tỉnh phụ cận Phát triển liên kết nông nghiệp giữa thủ đô và một số tỉnh phụ cận của một quốc gia là một dạng đặc thù của phát triển LKKT nông nghiệp theo và một sốvùng.
Tính cụ thể trong liên kết được thể hiện rõ, khi đó là liên kết của nông nghiệp thủ đô với liên kết và một số tỉnh phụ cận. Về thực chất, đó là mối quan hệ về kinh tế giữa sản xuất, cung ứng, chế biến tiêu thụ nông sản hàng hóa; chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và mối quan hệ về quản lý của chính quyền, các tổ chức giũa thủ đô và một số tỉnh phụ cận. Tuy nhiên, tính cấp thiết của sự liên kết, nội dung và các nguyên tắc liên kết cũng có những điểm mang tính đặc thù về tính cấp thiết, về mức độ và phạm vi của các quan hệ liên kết. Tính cấp thiết và mức độ, các tổ chức.
Các quan hệ liên kết biểu hiện đậm nét hơn trên các phương diện như: + Nhu cầu về nông sản của các tỉnh phụ cận cho cư dân thủ đô tăng cao, khi tỷ trọng của nông nghiệp thủ đô luôn của thủ đô, cư dân phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Trong khi đó, nhu cầu cung cấp nông sản cho dân cư thủ đô được coi là thị trường lý tưởng của nông nghiệp các tỉnh phụ cận. + Trong quan hệ lý thuyết của cực tăng trưởng đã được thể hiện với vai trò chủ động điều tiết các mối quan hệ của nông nghiệp thủ đô và vai trò phối hợp của Luan van 12 nông nghiệp các tỉnh phụ cận. Bởi vì, nông nghiệp thủ đô có những điều kiện thuận lợi phát triển.
Thủ đô là thị trường lý tưởng với nhu cầu nông sản cao, sức mua lớn đối với nông nghiệp các tỉnh phụ cận. + Tính Thủ đô với các đặc điểm trên là sự khác biệt trong các mối quan hệ liên kết trong đó tính chủ động của nông nghiệp thủ đô, tính phối hợp trong liên kết; sự khắt khe của chất lượng nông sản của thị trường có sức mua cao, bộ mặt của cả nước trong mối quan hệ giao dịch quốc tế là những đặc điểm tạo sự khác biệt trong phát triển LKKT theo vùng nông nghiệp. Nguyên tắc của phát triển LKKT Dựa trên những nguyên tắc của phát triển LKKT và có những biểu hiện đặc thù ở những cấp độ liên kết kinh tế cụ thể như sau: (i) Đảm bảo tính hiệu quả Liên kết dưới bất kỳ hình thức và mức độ nào thì vẫn phải đảm bảo chủ thể tham gia không ngừng được phát triển, doanh thu năng xuất và chất lượng sản phẩm ngày càng cao. Phát triển LKKT phải được nâng cao trình độ và công nghệ, mở rộng mặt hàng, sản xuất ngày càng phù hợp với nhu cầu thị trường, giá thành hạ, đem lại lợi nhuận cho các chủ thể trên cơ sở giá bán và chấp nhận.
Theo nguyên tắc của sự liên kết chung trên, phát triển LKKT nông nghiệp theo vùng, đặc biệt là phát triển LKKT giữa nông nghiệp thủ đô và một số tỉnh phụ cận cần phải được tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Bởi vì, tính chất thủ đô và một số tỉnh phụ cận luôn cao hơn các mối quan hệ theo vùng khác. Sức cạnh tranh giữa nông nghiệp với các ngành phi nông nghiệp cũng rất cao. Vì vậy, nếu các hoạt động nông nghiệp không phát triển, đặc biệt không có hiệu quả cao sẽ làm cho nông nghiệp sẽ diễn ra, nông nghiệp thủ đô và các tỉnh phụ cận sẽ bị thu hẹp, nhu cầu nông sản của cư dân thủ đô, thậm chí cả các tỉnh phụ cận sẽ không được đáp ứng.
(ii)Đảm bảo các bên tham gia phát triển LKKT Đây là nguyên tắc cơ bản nhất và là điều kiện tiền đề cho mối quan hệ liên kết kinh tế theo vùng Nguyên tắc này xuất phát từ quan hệ bình đẳng trong hoạt động kinh doanh Luan van 13 đảm bảo một cách công bằng trên cơ sở sự đóng góp của các bên. Nguyên tắc này chi phối hình thức, nội dung và lĩnh vực liên kết. Lợi ích lại cần được hiểu một cách toàn diện, có lợi ích trước mắt hay lợi ích lâu dài, lợi ích trực tiếp, lợi ích kinh tế hay lợi ích phi kinh tế… Để đảm bảo nguyên tắc trên, giữa các chủ thể liên kết của thủ đô và một số tỉnh phụ cận cần: cần tiến hành thỏa thuận, bàn bạc công khai dân chủ bình đẳng và đảm bảo sự công bằng về phân chia lợi nhuận, phân bổ thiệt hại, rủi ro, các tính toán về chi phí, giá cả trên cơ sở những đóng góp của các bên liên kết. Tuy nhiên, dù xét theo các phương diện nào thì phát triển LKKT cũng chỉ có thể tồn tại mỗi khi các bên tham gia tự nhận thấy mình có lợi hơn trong trường hợp không tham gia liên kết.
Nguyên tắc này đòi hỏi trong qua trình chuẩn bị liên kết kinh tế, lợi ích tổng thể cũng như lợi ích b phận cần được phân tích và nhận thức một cách đầy đủ.