phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 4 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế nông nghiệp. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu về phát triển kinh tế nông nghiệp. Chƣơng 3: Thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Yên Lập giai đoạn 2010 - 2012. Chƣơng 4: Định hƣớng và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế nông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 nghiệp huyện Yên Lập đến năm 2020.
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế nông nghiệp 1. Vị trí, vai trò của nông nghiệp trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật.
Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thuỷ sản. Ngành nông nghiệp cung cấp lƣơng thực, thực phẩm cho nhu cầu xã hội: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong phát triển kinh tế ở hầu hết các nƣớc, nhất là các nƣớc đang phát triển và những nƣớc còn nghèo, đại bộ phận dân số sống bằng nghề nông. Tuy nhiên ngay cả những nƣớc có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng nông nghiệp không lớn, nhƣng khối lƣợng nông sản của các nƣớc này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ lƣơng thực, thực phẩm cho đời sống của nhân dân nƣớc đó.
Lƣơng thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con ngƣời và phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc hiện nay, mặc dù trình độ khoa học - công nghệ ngày càng phát triển nhƣng vẫn chƣa ngành nào có thể thay thế đƣợc. Xã hội càng phát triển, đời sống con ngƣời ngày càng cao thì nhu cầu của con ngƣời về lƣơng thực và thực phẩm cũng ngày càng tăng về số lƣợng, chất lƣợng và chủng loại. Các nhà kinh tế học đều thống nhất cho rằng, điều kiện tiên quyết cho sự phát triển là tăng cung lƣơng thực cho nền kinh tế quốc dân bằng sản xuất hoặc nhập khẩu lƣơng thực. Có thể chọn con đƣờng nhập khẩu lƣơng thực để giành nguồn lực làm việc khác có lợi hơn, nhƣng điều đó chỉ phù hợp với các nƣớc nhƣ Singapore, Ả rập Saudi hay Brunei mà không dễ gì đối với các nƣớc nhƣ Inđônêxia, Trung Quốc, Ấn Độ hay Việt Nam là những nƣớc đông dân.
Các nƣớc đông dân muốn nền Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân ổn định thì phần lớn lƣơng thực tiêu dùng phải sản xuất trong nƣớc. Thực tiễn lịch sử của các nƣớc trên thế giới đã chứng minh, chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lƣơng thực. Nếu không đảm bảo an ninh lƣơng thực thì khó có sự ổn định chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển thì sẽ khó thu hút đƣợc đầu tƣ để phát triển bền vững, lâu dài. Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực thành thị, đặc biệt là ở các nƣớc đang phát triển.
Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, phần lớn dân cƣ sống bằng nông nghiệp và tập trung ở khu vực nông thôn. Vì thế khu vực nông nghiệp nông thôn thực sự là nguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho phát triển công nghiệp và đô thị. Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, một mặt tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặt khác nhờ đó mà năng suất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên, lực lƣợng lao động từ nông nghiệp đƣợc giải phóng ngày càng nhiều. Số lao động này dịch chuyển, bổ sung cho phát triển công nghiệp và đô thị.
Đó là xu hƣớng có tính quy luật của mọi quốc gia trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quý cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trƣờng. Khu vực nông nghiệp còn là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế, trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, bởi vì nông nghiệp là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân.
Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể đƣợc tạo ra từ thuế nông nghiệp, tiết kiệm của nông dân đầu tƣ vào các hoạt động phi nông nghiệp, ngoại tệ thu đƣợc do xuất khẩu nông sản, … Những điển hình thành công về sự phát triển ở nhiều nƣớc đều đã sử dụng tích luỹ từ nông nghiệp để đầu tƣ cho công nghiệp. Ngoài ra cần phải khai thác các nguồn khác một cách hợp lý, không nên cƣờng điệu quá vai trò của vốn tích luỹ trong nông nghiệp. Nông nghiệp và nông thôn còn là thị trƣờng tiêu thụ lớn của công nghiệp và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 dịch vụ. Ở hầu hết các nƣớc đang phát triển, sản phẩm công nghiệp bao gồm tƣ liệu tiêu dùng và tƣ liệu sản xuất đƣợc tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trƣờng trong nƣớc mà trƣớc hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn.
Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lƣợng ở khu vực phi nông nghiệp. Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cƣ nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp và dịch vụ tăng, thúc đẩy công nghiệp và dịch vụ phát triển. Nông nghiệp còn là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn. Các loại nông lâm thuỷ sản dễ dàng gia nhập thị trƣờng quốc tế hơn so với các sản phẩm công nghiệp.
Vì thế ở các nƣớc đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông lâm thuỷ sản. Xu hƣớng chung ở các nƣớc trong quá trình công nghiệp hoá, ở giai đoạn đầu, giá trị xuất khẩu nông lâm thuỷ sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng đó sẽ giảm dần cùng với sự phát triển cao của nền kinh tế. Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là sơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trƣờng vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môi trƣờng tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, thuỷ văn. Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất nhƣ phân bón hoá học, thuốc trừ sâu,.
làm ô nhiễm đất và nguồn nƣớc. Dƣ lƣợng độc tố trong sản phẩm tăng ảnh hƣởng đến sức khoẻ con ngƣời. Nếu rừng bị tàn phá, đất đai sẽ bị xói mòn, thời tiết, khí hậu thuỷ văn thay đổi xấu sẽ đe doạ đời sống của con ngƣời. Vì thế trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm ra các giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trƣờng [10].
Những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội. Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có đó là: * Sản xuất nông nghiệp đƣợc tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Đặc biệt trên cho thấy ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp. Thế nhƣng ở mỗi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 vùng mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết - khí hậu rất khác nhau.
Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động nông nghiệp cũng không giống nhau. Điều kiện thời tiết khí hậu với lƣợng mƣa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng v. trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và sử dụng đất. Do điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét.
Đặc điểm này đòi hỏi quá trình tổ chức chỉ đạo sản xuất nông nghiệp cần phải chú ý các vấn đề kinh tế - kỹ thuật sau đây: - Tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên về nông - lâm - thuỷ sản trên phạm vi cả nƣớc cũng nhƣ tính vùng để qui hoạch bố trí sản xuất các cây trồng, vật nuôi cho phù hợp. - Việc xây dựng phƣơng hƣớng sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật phải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu sản xuất nông nghiệp ở từng vùng. - Hệ thống các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện từng vùng, từng khu vực nhất định. * Trong nông nghiệp, ruộng đất là tƣ liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế đƣợc.
Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhƣng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau. Trong công nghiệp, giao thông v. đất đai là cơ sở làm nền móng, trên đó xây dựng các nhà máy, công xƣởng, hệ thống đƣờng giao thông v. để con ngƣời điều khiến các máy móc, các phƣơng tiện vận tải hoạt động.
Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tƣ liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế đƣợc. Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con ngƣời không thể tăng theo ý muốn chủ quan, nhƣng sức sản xuất ruộng đất là chƣa có giới hạn, nghĩa là con ngƣời có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của loài ngƣời về nông sản phẩm. Chính vì thế trong quá trình sử dụng phải biết quí trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng cơ bản, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dƣỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm. * Đối tƣợng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống - cây trồng và vật nuôi.