Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan tài liệu Trong tiến trình đổi mới từ 1986 tới nay, phát triển nền nông nghiệp Việt Nam này càng được Đảng và Nhà nước quan tâm và- đây cũng là lĩnh vực được những nhà nghiên cứu, các nhà lý luận, nhà hoạch định chính sách có sự quan tâm đặc biệt. Mọi sự quan tâm đều hướng đến mục tiêu phát triển nông nghiệp đạt mức cao, ổn định, hiệu quả về kinh tế, xã hội và thân thiện với môi trường. Vì vậy, đã có nhiều Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhiều công trình nghiên cứu khoa học (trong và ngoài nước) nghiên cứu về phát triển kinh tế nông nghiệp.
Khái quát về chủ trương và chính sách của Việt Nam về phát triển kinh tế nông nghiệp Sau giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc, sản xuất nông nghiệp được chú trọng để góp phần phát triển các mặt kinh tế - văn hóa - xã hội và khắc phục hậu quả chiến tranh nhưng đạt kết quả thấp. Nghị quyết 10- NQ/TW (1988) đánh giá nông nghiệp vẫn phát triển chậm, tỷ suất hàng hóa thấp, nhiều vùng vẫn chưa thoát khỏi tình trạng tự cấp, tự túc, chia cắt và độc canh. Trên một số mặt sản xuất, nhất là lương thực giảm sút. Rừng tiếp tục bị phá hoại nghiêm trọng; môi trường sinh thái không được bảo vệ tốt.
Nghị quyết 10-TW/NQ đánh dấu thời điểm đổi mới quản lý nông nghiệp ở nước ta, điểm mới là Hộ xã viên được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn, bỏ nghĩa vụ thu mua lương thực, thực phẩm theo giá thấp, thực hiện chế độ một giá, lưu thông lương thực tự do. Từ đó, nhiều chỉ thị, nghị quyết được ban hành: Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn (Nghị 5 c quyết 05-NQ/TW của BCH TW Đảng khóa VII, 1993); Phát triển nông nghiệp, nông thôn (Nghị quyết 06-NQ?TW của Bộ Chính trị, 1998). Nghị quyết 26-NQTW (2008) xác định một cách cơ bản, toàn diện về phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn, trong đó nhấn mạnh: Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài; xây dựng nông thôn mới; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, xã hội nông thôn ổn định, môi trường sinh thái được bảo vệ. Đề cập đến chủ trương phát triển nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng toàn diện, hiện đại, Đại hội lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: "Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, phát huy lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới.
Trên cơ sở tích tụ đất đai, đẩy mạnh cơ giới hóa, áp dụng công nghệ hiện đại (nhất là công nghệ sinh học); phát triển vùng chuyên môn hóa, khu nông nghiệp công nghệ cao, các tổ hợp sản xuất lớn". và "Mở rộng diện tích, áp dụng công nghệ cao để tăng năng suất, chất lượng các loại rau màu, cây ăn quả, cây công nghiệp có lợi thế". Quốc hội, Chính phủ đã có nhiều văn bản tạo hành lang pháp lý và thể chế hóa đường lối phát triển nông nghiệp của Đảng. Quốc hội đã ban hành Luật đất đai vào các năm 1993, 2005 và Luật đất đai sửa đổi vào các năm 1998, 2001, 2003 và 2013 với mục đích giao quyền sử dụng đất đến các tổ chức và hộ dân, phát huy tính tự chủ, giải phóng sức sản xuất nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Chính phủ đã có nhiều quyết định quan trọng đinh hướng cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt Quyết định 800/QĐ-TTg (2010) phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 với mục tiêu " Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, 6 c gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định; môi trường sinh thái được bảo vệ; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao". Quyết định 889/QĐ-TTg (2013) phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững với 3 mục tiêu lớn, bao gồm: "Duy trì tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh thông qua tăng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng. "Nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho cư dân nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực cho cả trước mắt và lâu dài." và "Tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính và các tác động tiêu cực khác đối với môi trường. Tỉnh Quảng Bình cũng đã xây dựng Đề án tái cơ cấu nông nghiệp với quan điểm, mục tiêu chuyển nông nghiệp phát triển theo hướng: Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn nhằm nâng cao giá trị, hiệu quả trên đơn vị diện tích; cải thiện và nâng cao đời sống người dân; sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái.
Các công trình nghiên cứu Trong những năm qua, có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển kinh tế nông nghiệp. Một số công trình tiêu biểu như sau: Nghiên cứu về các giai đoạn phát triển của nông nghiệp: Theo Todaro (Todaro, 1990) phát triển nông nghiệp trãi qua ba giai đoạn từ thấp đến cao: - Giai đoạn tự cung tự cấp: Đất đai, lao động là những yếu tố sản xuất chủ yếu, vốn đầu tư thấp; sản phẩm chưa đa dạng, chủ yếu là cây lương thực và các loại vật nuôi truyền thống. Sản lượng tăng chủ yếu do tăng diện tích canh tác. Phần lớn sản phẩm sản xuất ra được tiêu dùng nội bộ trong khu vực nông nghiệp.
7 c - Giai đoạn chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa: Đây là giai đoạn trung gian chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang chuyên môn hóa. Giai đoạn này cơ cấu cây trồng, vật nuôi phát triển theo hướng hỗn hợp, đa dạng dần thay thế chế độ canh tác độc canh trong sản xuất nên tính thời vụ được hạn chế. Sản lượng nông nghiệp gia tăng chủ yếu từ việc tăng năng suất, sản lượng trên một đơn vị diện tích canh tác. Sản phẩm nông nghiệp hướng đến thị trường.
- Nông nghiệp hiện đại: Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của nông nghiệp. Yếu tố vốn, công nghệ đóng vai trò quyết định trong việc tăng sản lượng nông nghiệp. Nông nghiệp được chuyên môn hóa sâu, cung ứng hoàn toàn cho thị trường và lợi nhuận là mục tiêu của người sản xuất. Đồng ý với Todaro về việc phân chia quá trình phát triển nông nghiệp thành 3 giai đoạn nhưng Sung Sang Park (1992) lại có cách phân chia khác, đó là các giai đoạn: Sơ khai, đang phát triển và phát triển.
Mỗi giai đoạn, sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào những yếu tố khác nhau và được mô tả dưới dạng hàm sản xuất. Giai đoạn sơ khai thì sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên như đất đai, thời tiết, lao động. Giai đoạn đang phát triển: Ngoài việc phụ thuộc yếu tố tự nhiên (N), lao động (L), sản lượng nông nghiệp còn phụ thuộc vào một số yếu tố được sản xuất từ khu vực công nghiệp như phân bón, thuốc hóa học. Năng suất lao động tăng lên tương ứng với lượng vốn sản xuất (K) sử dụng tăng thêm, từ đó thu nhập của lao động tăng thêm.
Qua mô hình này, thu nhập bình quân của lao động nông nghiệp ở các nước đang phát triển và phát triển sẽ có sự chênh lệch rất lớn do khác nhau về năng suất lao động. Theo Park, để thu hẹp khoảng cách, không có con đường nào khác ngoài việc dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp. 8 c Nghiên cứu về chính sách đất đai trong phát triển nông nghiệp, Martin Ravallion, Domonique van de Walle với nghiên cứu "Đất đai trong thời kỳ chuyển đổi: cải cách và nghèo đói nông thôn ở Việt Nam" (2008) cùng nhận định việc chia nhỏ đất đai đã và đang phát huy được tính tự chủ của nông dân, đáp ứng được việc gia tăng sản lượng; nhưng, chia nhỏ ruộng đất đã làm cản trở các ứng dụng cơ giới hóa, hiện đại hóa vào đồng ruộng và đang làm chậm quá trình phát triển nông nghiệp ở Việt Nam theo hướng hiện đại; phải có hướng đi trong tích tụ, tập hợp ruộng đất để chuyển nông nghiệp sang một giai đoạn phát triển cao hơn. Các nghiên cứu khác cũng đề cập tới từng khía cạnh của nội dung phát triển kinh tế nông nghiệp như nghiên cứu của Nguyễn Sinh Cúc (2003), Đặng Kim Sơn (2008) và Hoàng Thị Chính (2010) đã khẳng định là sự gia tăng sản lượng lương thực, thực phẩm thông qua chỉ tiêu giá trị sản xuất nông nghiệp (SXNN).
Tổ chức lại SXNN, ở Việt Nam được coi là những đột phá trong tổ chức SXNN đã trở thành cú hích phát triển. Nguyễn Sinh Cúc, Trần Đức (1998) và Đặng Kim Sơn (2008), Bùi Quang Bình (2006) khẳng định nên sử dụng mô hình kinh tế trang trại và thực hiện dồn điền đổi thửa mở rộng quy mô sản xuất. Theo tác giả Đặng Kim Sơn trong nghiên cứu "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam: Hôm nay và mai sau" (2008), Việt Nam cần phải sắp xếp lại hình thức tổ chức sản xuất theo hướng liên kết, hình thành các vùng chuyên canh, rút nhanh lao động ra khỏi nông nghiệp và liên kết giứa sản xuất nông nghiệp và các đối tác khác trong chuỗi ngành hàng nông sản nhằm phát triển nền nông nghiệp theo hướng công nghiệp, hiện đại hóa và thương mại hóa; coi trọng vai trò của của khoa học, công nghệ và rất cần thiết cho việc đưa nhanh các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và tiêu thụ 9 c sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động trong sản xuất nông nghiệp.TS Bùi Quang Bình (2010) Phát triển sản xuất nông nghiệp còn theo mô hình dịch chuyển năng suất lao động nông nghiệp do thay đổi công nghệ. Mô hình này được xác định bởi công thức: Năng suất lao động nông nghiệp (yA) = Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp (YA) chia Số lượng lao động nông nghiệp (LA) = (YA/La) x (La/LA).
Trong đó: La là Diện tích đất nông nghiệp.