Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. 4 Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang Hoa Kỳ. Chương 4: Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang Hoa Kỳ.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển nhanh chóng của cộng đồng DN VN, vấn đề OFDI và quản lý hoạt động OFDI ngày càng trở nên cấp thiết và đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng tầm vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Thời gian qua, làn sóng đầu tư của DN VN ra nước ngoài ngày càng gia tăng, trong đó nổi lên là các thị trường kề cận, giàu tiềm năng như Lào, Campuchia, Myanmar và một số thị trường đã phát triển như Mỹ, Australia, Singapore.
Do đó, vấn đề OFDI và quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI đang trở thành nội dung nghiên cứu quan trọng của nhiều tổ chức, cá nhân cả trong và ngoài nước. Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề OFDI và quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI trên các lĩnh vực, thị trường khác nhau. Đáng chú ý, có thể kể tới một số công trình nổi bật liên quan đến chủ đề và nội dung của luận văn như sau: - Nguyễn Thị Tý (2011) với nghiên cứu “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam” đã làm rõ một vấn đề quan trọng trong chính sách đầu tư của nhà nước VN đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài, tình hình đầu tư ra nước ngoài của DNVN; đồng thời chỉ rõ hệ thống văn bản pháp lý về hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Chính phủ và một số vấn đề liên quan đến phân cấp quản lý hoạt động cấp phép, kiểm tra, giám sát đầu tư ra nước ngoài ở cấp Trung ương và cấp địa phương. Đặc biệt, công trình này đã chỉ ra những kết quả đạt được và bất cập, hạn chế trong hệ thống chính sách, văn bản pháp luật và bộ máy quản lý hoạt động quản lý đầu tư ra nước ngoài của VN.
Tuy nhiên, đề tài mới tập trung vào các chính sách, văn bản pháp luật về quản lý đối với hoạt động OFDI nói chung, chưa nghiên cứu cụ thể từng thị trường và chưa phân tích phân cấp bộ máy quản lý. 6 - Nguyễn Hải Đăng (2012) với nghiên cứu “Đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” đã phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các DN VN theo góc nhìn từ chính sách. Theo đó, chính sách của Chính phủ có ảnh hưởng rất lớn tới dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Như giai đoạn 1999 - 2005 có số dự án và số vốn tăng vọt so với giai đoạn 1989 - 1998, tác giả cho rằng nguyên nhân là do Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn khác, hình thành cơ sở pháp lý tạo điều kiện cho hoạt động đầy tư ra nước ngoài của các DN VN.
Giai đoạn 2006 - 2011 là thời kỳ bùng nổ của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài do có Luật đầu tư 2005 và Nghị định số 78/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Tuy nhiên, trong công trình này, tác giả không đề cập sâu tới việc tăng cường công tác QLNN, nhất là các vấn đề liên quan tới hành lang pháp lý. - Nguyễn Trường Tứ (2014) với nghiên cứu “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” đã hệ thống hóa lại những chuyển biến về chính sách đối ngoại trong giai đoạn từ năm 1989 - 2012; đồng thời luận giải về khái niệm và các hình thức của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; phân tích mối quan hệ liên quan giữa chính sách đối ngoại và hoạt động OFDI. Bên cạnh đó, luận văn đã phân tích sâu hơn các tác động của chính sách đối ngoại đến hoạt động OFDI của các DN trong từng thời kì nhất định, qua từng chính sách cụ thể.
Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động OFDI của DN VN, cũng như xây dựng các chính sách đối ngoại phù hợp với thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế của VN trong giai đoạn hiện nay. - Vũ Thị Lan (2016) với nghiên cứu “Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam vào một số nước ASEAN: Thực trạng và giải pháp” đã nghiên cứu một cách khá toàn diện hoạt động OFDI của VN vào các nước ASEAN trong giai đoạn 2005 - 2013, trong đó đã đề cập tới một số vấn đề còn tồn tại trong công tác QLNN đối với lĩnh vực này, đồng thời đề xuất các giải pháp có liên quan. - Trần Nam Trung (2016) với nghiên cứu “Quản lý Nhà nước về đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Campuchia” đã nghiên cứu tổng quan về công tác 7 QLNN đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và chỉ rõ thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp của VN sang Campuchia trong giai đoạn 1999 - 2015, trong đó đã đưa những kết quả đạt được và hạn chế, nguyên nhân của hạn chế trong quá trình QLNN đối với hoạt động đầu tư trực tiếp của VN; đồng thời kiến nghị các giải pháp chung và giải pháp cụ thể nhằm tăng cường công tác QLNN đối với lĩnh vực này. - Nguyễn Thị Ngọc Mai (2017) với nghiên cứu Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam: Nhân tố tác động và hàm ý chính sách đã phân tích sâu các yếu tố có tác động thúc đẩy và gây cản trở tới dòng vốn OFDI của VN, qua đó, đưa ra hàm ý chính sách gia tăng dòng vốn này.
Bên cạnh đó, tác giả đã phát hiện ra các yếu tố mới tác động tới OFDI của VN như quy mô thị trường, chính sách ưu đãi đầu tư, thương mại, các hiệp định song phương, đa phương, chi phí nguyên vật liệu sản xuất. Tuy nhiên, Luận án chỉ tập trung nghiên cứu những yếu tố tác động tới quy mô dòng vốn OFDI của VN và không nghiên cứu về việc tăng cường công tác QLNN đối với hoạt động OFDI của DN VN. - Đặng Phương Linh (2018) với nghiên cứu “Đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài và một số vấn đề đặt ra” đã đánh giá tổng thể về hoạt động OFDI của DN VN từ trước tới nay, trong đó, chỉ rõ hành lang pháp lý quản lý hoạt động này của cơ quan chức năng qua từng thời kỳ và đánh giá sơ lược về đóng góp của OFDI đối với tăng trưởng kinh tế VN. Ngoài ra, tác giả đưa ra các giải pháp đối với Chính phủ và DN VN để thúc đẩy hoạt động OFDI, tập trung vào các vấn đề xây dựng chiến lược đầu tư dài hạn, cải cách thủ tục hành chính và đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư.
- Nguyễn Quang Vinh (2020) với nghiên cứu về “Quản lý Nhà nước về đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang Myanmar” đã phân tích cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về QLNN đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và thực trạng trong lĩnh vực này của các DN VN tại Myanmar trong giai đoạn 2016 - 2020, trong đó có tình hình đầu tư của Doanh nghiệp VN tại Myanmar, các văn bản pháp lý về cơ chế chính sách, thủ tục hành chính và đánh giá chung về những kết quả đạt 8 được và những vấn đề còn tồn tại trong công tác QLNN đối với hoạt động đầu tư trực tiếp của VN sang Myanmar. Từ đó, tác giả đã định hướng và đưa ra giải pháp nhằm tăng cường công tác QLNN đối với lĩnh vực này đến năm 2025. Những điểm có kế thừa và nội dung cần tiếp tục nghiên cứu Tại công trình này, tác giả đã nghiên cứu và tiếp thu các nội dung về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về QLNN đối với hoạt động OFDI của một số đề tài đã công bố và bổ sung, cập nhật những quy định mới trong Luật Đầu tư số 61/2020/QH14, được Quốc hội thông qua vào tháng 6/2020 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2021) và Nghị định “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư” số 31/2021/NĐ-CP, được Chính phủ ban hành vào tháng 3/2021. Bên cạnh đó, tác giả cũng khảo sát và phát hiện rằng hiện chưa có công trình nghiên cứu tổng thể nào về OFDI của VN đối với thị trường Hoa Kỳ.
Do đó, luận văn “Quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang Hoa Kỳ” đã đề cập đến một vấn đề khá mới và cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm rõ một số nội dung sau: Thứ nhất, tình hình đầu tư của DN VN và những thuận lợi, khó khăn trong quá trình hoạt động đầu tư tại thị trường Hoa Kỳ. Thứ hai, thực trạng công tác QLNN đối với hoạt động đầu tư của VN tại thị trường Hoa Kỳ, những kết quả đạt được và hạn chế. Thứ ba, Chính phủ cần đưa ra giải pháp gì để tăng cường hoạt động QLNN về đầu tư trực tiếp của DN VN sang Hoa Kỳ. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài 1.
Những vấn đề chung về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 1. Khái niệm về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Tổ chức thương mại thế giới (1996) cho rằng: “OFDI xuất hiện khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.” Theo Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF (1977): “OFDI là số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một DN hoạt động ở nền kinh tế khác với nền 9 kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là giành được tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý DN đó”. Khái niệm này nhấn mạnh động cơ đầu tư và phân biệt FDI với đầu tư gián tiếp (Foreign Portfolio Investment).