phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường ở tỉnh Bắc Ninh. Chƣơng 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 1.
Nhận thức về môi trƣờng 1. Khái niệm môi trường Môi trường là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, vì vậy cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường. Tuy nhiên, môi trường sử dụng trong lĩnh vực pháp lí quản lý là khái niệm được hiểu như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được hiểu như là những yếu tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người. Điều 3 Luật bảo vệ Môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kì họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 định nghĩa môi trường: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.
Như vậy, theo định nghĩa của Luật bảo vệ môi trường thì con người trở thành trung tâm trong mối quan hệ với tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo. Môi trường được tạo thành bởi vô số các yếu tố vật chất, trong đó những yếu tố vật chất tự nhiên như đất, nước, không khí, ánh sáng âm thanh, các hệ thực vật, hệ động vật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hơn cả. Những yếu tố này được coi là những thành phần cơ bản của môi trường. Chúng hình thành và phát triển theo những quy luật tự nhiên vốn có và nằm ngoài khả năng quyết định của con người.
Con người chỉ có thể tác động tới chúng trong chừng mực nhất định. Bên cạnh những yếu tố vật chất tự nhiên, môi trường còn bao gồm cả những yếu tố nhân tạo. Những yếu tố này do con người tạo ra nhằm tác động tới các yếu tố thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của bản thân 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mình, như: hệ thống đê điều, các công trình nghệ thuật, các công trình văn hóa kiến trúc. Những đặc trưng cơ bản của môi trường - Tính cơ cấu (cấu trúc) phức tạp: môi trường bao gồm nhiều thành phần hợp thành (như tự nhiên, kinh tế, xã hội…) mỗi thành phần lại có bản chất khác nhau.
Do vậy, nó bị chi phối bởi quy luật khách quan, và các quy luật đặc thù riêng của mỗi thành phần như các quy luật tự nhiên, các quy luật kinh tế, các quy luật xã hội. - Tính động: mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động không ngừng, khi vận động làm cho nó lệch khỏi trạng thái cân bằng trước đó và sau đó lại có xu hướng lập lại thế cân bằng mới. Vì thế, cân bằng động là một đặc tính cơ bản của môi trường với tư cách là một hệ thống. Đặc tính đó cần được tính trong hoạt động tư duy và trong tổ chức thực tiễn của con người.
- Tính mở: Môi trường dù là lớn hay nhỏ như thế nào cũng đều là một hệ thống mở. Các dòng vật chất, năng lượng và thông tin liên tục “chảy” trong không gian và thời gian. Vì thế hệ môi trường rất nhạy cảm với những thay đổi bên ngoài, điều này lý giải vì sao các vấn đề môi trường mang tính vùng, tính toàn cầu, tính lâu dài và nó chỉ được giải quyết bằng nỗ lực của toàn thể cộng đồng, bằng sự hợp tác giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới với một tầm nhìn xa, trông rộng vì lợi ích của thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. - Khả năng tự tổ chức và điều chỉnh: Trong hệ môi trường có các phần tử cơ cấu là vật chất sống (con người, giới sinh vật) hoặc là các sản phẩm của chúng.
Các phần tử này có khả năng tự tổ chức lại hoạt động của mình và tự điều chỉnh để thích ứng với những thay đổi bên ngoài theo quy luật tiến hóa nhằm hướng tới trạng thái ổn định. Đặc tính cơ bản này của hệ môi trường quy định tính chất, mức độ, phạm vi can thiệp của con người, đồng thời tạo mở hướng giải quyết căn bản, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lâu dài cho các vấn đề môi trường cấp bách hiện nay (tạo khả năng tự phục hồi của các tài nguyên sinh vật đã suy kiệt, xây dựng các hồ chứa và các vành đai cây xanh…). Vai trò của môi trường Đối với một cá thể con người, cũng như đối với cộng đồng con người và cả xã hội loài người, môi trường sống có vai trò quan trọng cụ thể là: - Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người; - Môi trường là nơi chứa đựng các phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và sản xuất của mình Trong xã hội sản xuất hàng hoá chưa phát triển cao, mật độ dân số thấp, các chất thải thường được tái sử dụng. Thí dụ, các chất thải bài tiết được dùng làm phân bón; các chất thải từ nông sản, lâm sản được làm cho thức ăn gia súc, nhiên liệu.
Những thành phần không thể tái sử dụng, tái chế thường được phân huỷ tự nhiên bởi các sinh vật và vi sinh vật, sau một thời gian ngắn để trở lại thành những hợp chất hoặc nguyên tố dùng làm nguyên liệu cho các quá trình sản xuất mới. Trong xã hội công nghiệp hoá, sản xuất hàng hoá phát triển, mật độ dân số cao, lượng chất thải thường rất lớn, môi trường không đủ nơi chứa đựng, quá trình tự phân huỷ không theo kịp so với lượng chất thải tạo ra. Hay người ta thường gọi lượng chất thải vượt quá mức chịu tải của môi trường. Đây là nguyên nhân cơ bản gây ra những biến đổi về môi trường ảnh hưởng tới cuộc sống của con người.
- Môi trường là không gian sống, cung cấp các dịch vụ cảnh quan thiên nhiên: Con người chỉ có thể tồn tại và phát triển trong không gian môi trường, môi trường là nơi duy nhất cho con người được hưởng các cảnh đẹp thiên nhiên, thư thái về tinh thần, thoả mãn các nhu cầu tâm lý. - Ngoài ra môi trường còn cung cấp thông tin cho con người. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại môi trường Tùy theo mục đích nghiên cứu và sử dụng, có nhiều cách phân loại môi trường khác nhau.
Có thể phân loại môi trường theo các dấu hiệu sau đây: - Theo quy mô: Chủ yếu người ta phân loại môi trường theo không gian địa lý như môi trường toàn cầu, môi trường khu vực, môi trường quốc gia, môi trường vùng, môi trường địa phương. - Theo mục đích nghiên cứu sử dụng: Quản lý, sử dụng, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên và xử lý chất thải sao cho không bị ảnh hưởng tới đời sống hiện tại cũng như đối với các thế hệ mai sau hay nói cách khác là chỉ xét tới những nhân tố tự nhiên và xã hội liên quan trực tiếp tới cuộc sống của con người. Với mục đích nghiên cứu của đề tài này chúng ta sẽ đi sâu vào tiếp cận phân loại môi trường theo chức năng. - Theo chức năng được chia làm các loại: - Môi trường tự nhiên: Bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người.
Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú. Môi trường xã hội: Là tổng thể các loại quan hệ giữa con người với con người. Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định… ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, các quốc gia, tỉnh huyện, cơ quan, làng, xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể… Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Môi trường nhân tạo: Bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở các khu vực đô thị, công viên nhân tạo… 1.
Bảo vệ môi trƣờng là tất yếu khách quan nhằm hƣớng tới phát triển bền vững 1. Phát triển bền vững Đinh nghĩa của Liên Hợp Quốc (UNEP): “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thỏa nãm các nhu cầu của thế hệ tương lai”. Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và môi trƣờng. Kinh tế Xã hội Phát triển bền vững Môi trường Phát triển bền vững là sự phát triển cân đối giữa ba cực: tăng trưởng kinh tế, xã hội và môi trường, cả ba cực tồn tại độc lập với nhau nhưng lại có mối quan hệ thống nhất với nhau đó là cùng hướng tới phát triển bền vững.
Do vậy, không được xem nhẹ cực nào. Theo Quyết định số 153/2004/QĐ - TTg để triển khai thực hiện định hướng chiến lược phát triển bền vững, tháng 12 năm 2004 tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức Hội nghị toàn quốc triển khai trương trình nghị sự 21 của Việt Nam. Chương trình tập trung nhiều nội dung, trong đó có hướng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dẫn xây dựng thực hiện chương trình phát triển bền vững tại các ngành, địa phương, nhấn mạnh các ngành, các cấp, các địa phương cần lồng ghép định hướng phát triển bền vững trong quy hoạch phát triển, trong công tác kế hoạch.