Tổng quan nghiên cứu

Ngành chè giữ vai trò trụ cột trong nền nông nghiệp hàng hóa Việt Nam với quy mô toàn quốc đạt 130 nghìn ha tại 34 tỉnh thành, tạo ra tổng giá trị sản xuất năm 2022 ước tính 12.600 tỷ đồng (tương đương 552 triệu USD) và sản lượng đạt 194 nghìn tấn. Trong bức tranh chung đó, tỉnh Thái Nguyên khẳng định vị thế trung tâm với diện tích chè dẫn đầu cả nước lên tới 22,3 nghìn ha, sản lượng búp tươi đạt trên 260 nghìn tấn và giá trị sản xuất năm 2020 đạt 5.580 tỷ đồng, chiếm tới 44,3% tổng giá trị trồng trọt của tỉnh. Dù sở hữu giá trị kinh tế trung bình đạt 270 triệu đồng/ha và xuất khẩu sang nhiều thị trường quốc tế, vùng chè trọng điểm này đang đối mặt với thách thức nghiêm trọng về an toàn vệ sinh thực phẩm. Tình trạng lạm dụng phụ gia như trộn bột sắn với tỷ lệ 1 kg bột trên 100 kg chè tươi, hay vụ việc năm 2020 phát hiện hoạt chất cấm Methamidophos và Endosulfan, đã đặt ra hồi chuông cảnh báo lớn về lỗ hổng kiểm soát.

Vấn đề cốt lõi mà nghiên cứu hướng đến là giải quyết sự thiếu đồng bộ trong công tác quản lý nhà nước đối với khâu chế biến chè tại các hợp tác xã trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Mục tiêu nghiên cứu tập trung luận cứ và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trong giai đoạn mới. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể tại thành phố Thái Nguyên, bao quát toàn bộ 42 hợp tác xã chế biến chè trong khung thời gian từ năm 2020 đến năm 2023. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống số liệu thực chứng, giúp các nhà hoạch định chính sách địa phương hiện thực hóa Chỉ thị số 17-CT/TW ngày 21/10/2022 của Ban Bí thư về tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn thực phẩm trong tình hình mới, bảo vệ thương hiệu trà quốc gia và tối ưu hóa chuỗi giá trị nông sản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý hành chính nhà nước hiện đại kết hợp lý thuyết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững. Khung phân tích vận dụng nguyên tắc quản lý rủi ro xuyên suốt theo chuỗi cung ứng từ nông trại đến bàn ăn do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) khởi xướng. Hệ thống lý luận này tích hợp 6 nguyên tắc cốt lõi theo Luật An toàn thực phẩm năm 2010, bao gồm việc quản lý dựa trên quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, phân tích nguy cơ tiềm ẩn và phân công phối hợp liên ngành chặt chẽ. Hệ thống chuẩn mực quốc tế của FAO/WHO với 237 tiêu chuẩn hàng hóa thực phẩm và 3.274 giới hạn dư lượng tối đa thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng làm hệ quy chiếu đánh giá.

Luận văn làm rõ 4 khái niệm trung tâm bao gồm: thực phẩm chế biến, an toàn thực phẩm, quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm và mô hình kinh tế hợp tác xã nông nghiệp. Trong đó, quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trong chế biến chè được xác định là việc cơ quan công quyền sử dụng quyền lực pháp lý để kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu búp tươi, quy trình sao sấy, phối trộn hương liệu và điều kiện đóng gói thành phẩm, nhằm bảo vệ tối đa sức khỏe người tiêu dùng và duy trì trật tự thị trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm bảo đảm tính khách quan và khoa học. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo tổng kết giai đoạn 2020 - 2023 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên, Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản, cùng Phòng Kinh tế thành phố Thái Nguyên. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra bảng hỏi cấu trúc kết hợp phỏng vấn sâu trong thời gian từ tháng 6/2023 đến tháng 12/2023.

Cỡ mẫu khảo sát được chia thành 2 nhóm độc lập: nhóm cán bộ quản lý phát ra 40 phiếu và thu về 36 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ phản hồi 90%); nhóm đơn vị sản xuất khảo sát toàn bộ 42 hợp tác xã chế biến chè trên địa bàn thành phố và thu về đủ 42 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 100%). Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu có chủ đích đối với cán bộ chuyên trách và điều tra toàn bộ tổng thể đối với các hợp tác xã nhằm phản ánh đầy đủ thực trạng địa bàn. Dữ liệu khảo sát được mã hóa và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel bằng phương pháp thống kê mô tả và thang đo Likert 5 mức độ. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là nhằm lượng hóa chính xác nhận định của các nhóm chủ thể đối với từng khía cạnh quản lý, đồng thời phù hợp với quy mô mẫu cấp quận huyện, giúp so sánh trực quan giữa đánh giá của cơ quan quản lý và nhận thức của đối tượng thực thi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô kinh tế của các hợp tác xã có sự chuyển biến tích cực nhưng quy trình bảo đảm an toàn thực phẩm còn nhiều khoảng trống. Tính đến năm 2022, thành phố Thái Nguyên có 42 hợp tác xã chè đạt công suất bình quân 10,5 tấn/năm và doanh thu trung bình 3,7 tỷ đồng/năm. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 35% đơn vị áp dụng đồng bộ quy trình VietGAP hoặc tiêu chuẩn chất lượng tiên tiến, phần lớn vẫn dựa vào kỹ thuật thủ công truyền thống.

Thứ hai, hành vi vi phạm an toàn thực phẩm diễn biến phức tạp tại các công đoạn chế biến nhiệt và tạo hình sản phẩm. Kết quả điều tra thực địa cho thấy một bộ phận thành viên hợp tác xã vì lợi nhuận đã trộn bột khô như bột sắn, bột ngô với tỷ lệ 1 kg bột trên 100 kg búp tươi trong khâu vò nhằm làm cánh chè săn chắc, nặng cân; một số cơ sở tự ý bổ sung mì chính và bột tạo màu xanh trong công đoạn sao khô. Đáng lo ngại, 100% các điểm sao sấy thủ công tự do ngoài mô hình hợp tác xã không có đăng ký kinh doanh và mẫu xét nghiệm đều có chỉ tiêu vi sinh vật vượt ngưỡng cho phép nhiều lần.

Thứ ba, công tác thanh tra và xử lý vi phạm còn mang tính hình thức và thiếu tính răn đe. Trong giai đoạn 2020 - 2023, tỷ lệ hợp tác xã và cơ sở chế biến được kiểm tra định kỳ mỗi năm chỉ đạt dưới 45%. Việc phát hiện các hoạt chất độc hại cấm sử dụng như Methamidophos hay việc doanh nghiệp Định Hóa có lô hàng xuất khẩu sang Đài Loan bị trả về vào tháng 4/2020 chủ yếu do các đoàn kiểm tra cấp trên phát hiện thay vì cơ chế giám sát thường xuyên tại địa phương.

Thứ tư, công tác phối hợp liên ngành giữa y tế, nông nghiệp và công thương còn phân tán. Đánh giá của 36 cán bộ quản lý chỉ đạt điểm trung bình 3,12 trên thang điểm 5 đối với tiêu chí hiệu quả phối hợp liên ngành, cho thấy sự thiếu kết nối dữ liệu trong kiểm tra nguồn gốc và xử phạt hành chính.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ 3 nhóm nguyên nhân chính: nhận thức pháp luật hạn chế của người lao động nông thôn, sự buông lỏng kiểm soát thị trường phụ gia trôi nổi, và sự chồng chéo chức năng quản lý theo Nghị định 15/2018/NĐ-CP khiến cấp cơ sở lúng túng trong phân định thẩm quyền. Kết quả này tương đồng với các công trình nghiên cứu trước đây về an toàn thực phẩm tại Bắc Ninh và Phú Thọ, khi chỉ ra rằng việc thiếu hụt trang thiết bị kiểm tra nhanh tại chỗ là rào cản lớn nhất của lực lượng thanh tra cấp huyện.

Về mặt kinh tế, sự lơ là trong quản lý an toàn thực phẩm đe dọa trực tiếp đến phân khúc chè đặc sản cao cấp vốn có mức giá ấn tượng từ 2,5 triệu đến 10 triệu đồng/kg. Toàn bộ các phát hiện này có thể được mô tả và trực quan hóa rõ nét thông qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật qua các năm, kết hợp bảng ma trận đánh giá tương quan giữa 8 yếu tố bên ngoài (như môi trường thể chế, nhận thức người tiêu dùng) và 4 yếu tố bên trong (như quy mô vốn, nguồn cung nguyên liệu) tác động trực tiếp đến hiệu lực quản lý nhà nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, ban hành Quy chế phối hợp liên ngành trong quản lý an toàn thực phẩm nông sản, hoàn thành trong Quý II/2024. Ủy ban nhân dân thành phố Thái Nguyên đóng vai trò chủ trì, chỉ đạo Phòng Kinh tế, Phòng Y tế và Đội Quản lý thị trường phân định rõ 100% trách nhiệm quản lý từng khâu, xóa bỏ hoàn toàn tình trạng chồng chéo hoặc bỏ trống địa bàn.

Thứ hai, chuẩn hóa điều kiện chế biến và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm cho 100% trong số 42 hợp tác xã chè trước tháng 12/2025. Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản tỉnh Thái Nguyên chủ trì thẩm định, bắt buộc các hợp tác xã thiết lập hệ thống ghi chép điện tử và dán tem truy xuất nguồn gốc mã QR trên 100% sản phẩm lưu thông.

Thứ ba, tăng cường thanh tra đột xuất và trang bị công cụ kiểm tra hiện đại. Đoàn kiểm tra liên ngành thành phố Thái Nguyên cần nâng tỷ lệ hậu kiểm hằng năm lên tối thiểu 80% tổng số cơ sở chế biến trong giai đoạn 2024 - 2026. Ủy ban nhân dân thành phố cần phê duyệt cấp phát 100 bộ kit test nhanh dư lượng hóa chất và phụ gia cho lực lượng kiểm tra tại hiện trường.

Thứ tư, đẩy mạnh chương trình đào tạo kỹ thuật chế biến an toàn. Hội Nông dân thành phố phối hợp với Liên minh Hợp tác xã tỉnh tổ chức tối thiểu 12 lớp tập huấn chuyên sâu mỗi năm, hướng tới mục tiêu 100% người lao động trực tiếp tại các hợp tác xã được cấp chứng chỉ an toàn vệ sinh thực phẩm và chấm dứt dứt điểm tình trạng dùng bột sắn, phẩm màu trước Quý IV/2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước bao gồm Ủy ban nhân dân thành phố Thái Nguyên, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng các phòng ban chuyên môn. Nhóm này có thể khai thác hệ thống dữ liệu khảo sát từ 36 cán bộ quản lý và khung đề xuất chính sách để xây dựng kế hoạch kiểm tra liên ngành và ban hành các văn bản chỉ đạo phù hợp với thực tiễn địa phương giai đoạn 2024 - 2030.

Nhóm ban quản trị và hộ thành viên của 42 hợp tác xã sản xuất chè trên địa bàn. Nghiên cứu cung cấp tài liệu tự đánh giá, chỉ rõ các lỗi vi phạm kỹ thuật phổ biến trong khâu vò và sao sấy, qua đó giúp đơn vị chủ động khắc phục để nâng hạng chất lượng sản phẩm OCOP, gia tăng giá bán từ mức thông thường 120 nghìn đồng/kg lên mức đặc sản từ 280 nghìn đến trên 2,5 triệu đồng/kg.

Nhóm các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Khoa học quản lý, Quản lý công và Kinh tế nông nghiệp. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp thang đo Likert, cung cấp bài học tình huống thực chứng sâu sắc về kiểm soát chuỗi cung ứng thực phẩm tại các vùng chuyên canh đặc thù.

Nhóm doanh nghiệp thu mua, chế biến sâu và xuất khẩu nông sản. Luận văn cung cấp bức tranh trung thực về thực trạng nguồn cung chè nguyên liệu tại Thái Nguyên, hỗ trợ các doanh nghiệp thiết lập quy trình kiểm soát nhà cung ứng chặt chẽ nhằm đáp ứng các rào cản kỹ thuật khắt khe của thị trường nhập khẩu quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Công đoạn chế biến chè tại các hợp tác xã tiềm ẩn những rủi ro an toàn thực phẩm cụ thể nào? Rủi ro lớn nhất phát sinh từ việc hộ sản xuất tự ý bổ sung phụ gia như bột khô với tỷ lệ 1 kg bột trên 100 kg chè tươi ở khâu vò để tăng độ săn chắc, hoặc dùng phẩm màu và mì chính trong khâu sao chè. Ngoài ra, việc sao sấy thủ công không đạt chuẩn nhiệt độ khiến chỉ tiêu vi sinh vật vượt ngưỡng an toàn nhiều lần.

Thực trạng vi phạm thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn thành phố diễn ra như thế nào? Cơ quan chuyên môn từng phát hiện các mẫu chè xanh thành phẩm chứa hoạt chất cấm độc hại như Methamidophos và Endosulfan qua các đợt kiểm nghiệm chuyên sâu. Điển hình trong năm 2020, một lô chè xuất khẩu của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã vi phạm quy chuẩn an toàn thực phẩm của thị trường Đài Loan, dẫn đến thiệt hại kinh tế lớn.

Hạn chế lớn nhất trong tổ chức bộ máy quản lý an toàn thực phẩm cấp huyện là gì? Hạn chế trọng tâm nằm ở sự phối hợp liên ngành thiếu chặt chẽ giữa 3 ngành y tế, nông nghiệp và công thương, với điểm số khảo sát thực tế chỉ đạt 3,12 trên 5 điểm. Đội ngũ cán bộ cơ sở mỏng, thiếu thiết bị kiểm nghiệm nhanh, dẫn đến tỷ lệ cơ sở được thanh tra định kỳ hằng năm chỉ đạt dưới 45%.

Hợp tác xã cần đáp ứng điều kiện cốt lõi nào để được công nhận an toàn thực phẩm? Cơ sở phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định tại Nghị định 15/2018/NĐ-CP, bao gồm thiết kế nhà xưởng nguyên tắc một chiều, trang thiết bị tiếp xúc trực tiếp đạt chuẩn vệ sinh và nguồn nước đạt chuẩn. Đặc biệt, 100% nguyên liệu chè búp tươi phải có hợp đồng kiểm soát nguồn gốc và người chế biến phải qua tập huấn định kỳ.

Việc chuẩn hóa an toàn thực phẩm mang lại bước nhảy vọt kinh tế nào cho ngành chè? Việc chuẩn hóa quy trình giúp chè Thái Nguyên thoát khỏi mức giá nguyên liệu thô rẻ mạt từ 1,5 đến 2 USD/kg. Sản phẩm an toàn đạt chứng nhận OCOP có giá tiêu thụ nội địa ổn định từ 280 nghìn đồng/kg, và các dòng chè đinh thượng hạng đạt từ 7 đến 10 triệu đồng/kg, đưa giá trị bình quân trên 1 ha đạt 270 triệu đồng.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết và 6 nguyên tắc quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm áp dụng riêng cho lĩnh vực chế biến chè tại cấp huyện.
  • Phân tích rõ thực trạng 42 hợp tác xã trên địa bàn thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2020 - 2023, vạch rõ sai phạm lạm dụng phụ gia và tỷ lệ cơ sở được kiểm tra dưới 45%.
  • Lượng hóa thành công các rào cản quản lý thông qua điều tra thực chứng 36 cán bộ công quyền và 42 đại diện hợp tác xã bằng thang đo Likert khoa học.
  • Xác lập hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện thể chế liên ngành, đầu tư kit test nhanh đến cấp chứng nhận bắt buộc và ứng dụng mã QR truy xuất nguồn gốc.
  • Đóng góp cơ sở thực tiễn chuẩn xác hỗ trợ chính quyền tỉnh Thái Nguyên hiện thực hóa các mục tiêu quản lý nông sản an toàn theo tinh thần đổi mới.

Đóng góp lớn nhất của công trình là chuyển dịch tư duy quản lý nhà nước từ phương thức tiền kiểm thụ động sang cơ chế hậu kiểm tích hợp công nghệ số hóa trên toàn chuỗi giá trị. Trong lộ trình 2024 - 2025, việc chuẩn hóa 100% hợp tác xã đạt chuẩn an toàn thực phẩm là nhiệm vụ cấp bách để giữ vững uy tín vùng chè đệ nhất danh trà. Chính quyền địa phương, các hợp tác xã và người sản xuất cần chủ động hành động ngay hôm nay, kiên quyết bài trừ phụ gia độc hại, chung tay xây dựng thương hiệu chè Thái Nguyên phát triển bền vững và vươn tầm thế giới.