CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI QUỐC PHÒNG 1. Khái niệm, đặc điểm của quản lý nhà nước về quốc phòng 1. Khái niệm quản lý nhà nước về quốc phòng 1. Quốc phòng Quốc phòng là công cuộc giữ nước của một quốc gia gồm tổng thể các hoạt động đối nội, đối ngoại về kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học… của Nhà nước để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện trong đó sức mạnh quân sự là nòng cốt để giữ vững hoà bình, đẩy lùi và ngăn chặn các hoạt động chống đối của kẻ thù, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới bất cứ hình thức và quy mô nào [41].
Trong công tác quốc phòng phải đặc biệt chăm lo xây dựng lực lượng lực lượng quân đội chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và lực lượng Dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp. Hai khái niệm an ninh và quốc phòng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau vì an ninh, quốc phòng là hai mặt của sự nghiệp bảo vệ đất nước. Quốc phòng mạnh là điều kiện tốt nhất để giữ vững an ninh bên trong, ngược lại an ninh tốt là điều kiện để ổn định chính trị, xã hội, củng cố quốc phòng [41]. Quản lý nhà nước về quốc phòng là vấn đề hệ trọng đối với một quốc gia độc lập có chủ quyền, nhằm bảo vệ Tổ quốc XHCN bằng sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng [40].
Nội dung này thể hiện tổng hợp chiến lược quốc phòng và chiến lược an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Nội dung bảo vệ Tổ quốc XHCN bao gồm các nội dung sau: 7 luan an - Thực hiện việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ đất nước, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội của quốc gia. - Bảo vệ thành công Tổ quốc XHCN là bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ XHCN, bảo vệ sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN của Việt Nam. - Thực hiện việc bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.
Quản lý nhà nước về quốc phòng Quản lý nhà nước về quốc phòng là quá trình điều hành bằng pháp luật, chính sách, kế hoạch và các công cụ khác của Nhà nước trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động xã hội, có quan hệ đến việc giữ gìn, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, do hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương tiến hành theo chức năng nhiệm vụ, phạm vi quyền hạn của mỗi cơ quan. Toàn dân và các đoàn thể quần chúng tích cực tham gia các hoạt động trong nội dung quản lý nhà nước về quốc phòng dưới nhiều hình thức khác nhau trong mối quan hệ tổng thể “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” một cách nhịp nhàng, hiệu quả. Lĩnh vực quốc phòng là một trong những lĩnh vực có những nét đặc thù riêng như: tính khẩn trương, tính thống nhất, tập trung, tính bí mật cao, tính biến động, phức tạp lớn, tính đối kháng quyết liệt, tính mệnh lệnh cao. Đặc điểm của quản lý nhà nước về quốc phòng Một là, quản lý nhà nước về quốc phòng nhằm thoả mãn hai mục tiêu là: ngăn chặn đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, giữ vững hoà bình; đồng thời phải đáp ứng mọi yêu cầu của chiến tranh, sẵn sàng tiến hành thắng lợi chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc.
8 luan an Hai là, quản lý nhà nước về quốc phòng không phải chỉ là quản lý lực lượng vũ trang và lĩnh vực quân sự; mà quản lý nền quốc phòng toàn dân trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, quân sự, an ninh và đối ngoại. Ba là,quản lý nhà nước về quốc phòng không lấy việc tạo ra sản phẩm kinh tế dân sinh là chủ yếu, nhưng tham gia lao động, sản xuất tích cực góp phần phát triển kinh tế - xã hội, không hạch toán kinh doanh nhưng phải tính toán chi phí hiệu quả, lấy việc hoàn thành nhiệm vụ quốc phòng là chính. Bốn là, quản lý nhà nước về quốc phòng phải vừa bảo đảm tập trung thống nhất, bí mật cao, vừa thực hiện được dân chủ rộng rãi. Quốc phòng của ta là quốc phòng toàn dân, là sự nghiệp của nhân dân.
Hiến pháp 2013 quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại của Nhà nước” [31]. Sự kết hợp đó thể hiện tính đồng bộ của quản lý nhà nước nói chung, trong chỉ đạo chiến lược, trong hệ thống pháp luật, trong từng chủ trương, chính sách cụ thể, trong mối quan hệ giữa các ngành, các cấp, trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân trên cơ sở quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên tắc, nội dung quản lý nhà nước đối với quốc phòng 1. Nguyên tắc quản lý nhà nước về quốc phòng Thứ nhất, nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp Đây là nguyên tắc cơ bản nhất, quan trọng nhất, chủ đạo và chi phối các nguyên tắc khác.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, đấu tranh bảo vệ an ninh trật tự là nhiệm vụ nặng nề, gian khổ, âm thầm, nhưng rất quan trọng, quan hệ trực tiếp đến vận mệnh của toàn dân, đến sự mất còn của dân tộc. Một sự nghiệp như vậy phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Nếu thoát ly đường lối chính trị của Đảng thì không đạt được kết quả. Trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại 9 luan an đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: “Thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, đối với sự nghiệp quốc phòng và an ninh” [12, tr.
Gần đây nhất, tại Đại hội lần thứ XII, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh. Trong quá trình lãnh đạo quản lý nhà nước về quốc phòng, các cấp ủy Đảng cần phân định rõ chức năng lãnh đạo của mình với chức năng quản lý của cơ quan Nhà nước, không được biến các tổ chức Đảng thành các cơ quan hành chính, bao biện làm thay, nhưng cũng không khoán trắng cho chính quyền, cho các cơ quan chuyên môn. Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chính sách, bằng công tác cán bộ và công tác tổ chức, bằng công tác vận động quần chúng và công tác giám sát, kiểm tra hoạt động quản lý nhà nước trên lĩnh vực này. Thứ hai, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Quá trình quản lý nhà nước về quốc phòng đòi hỏi các chủ thể phải dựa trên cơ sở hệ thống văn bản pháp luật nhà nước.
Do vậy, tăng cường pháp chế trong quản lý nhà nước về quốc phòng là hết sức quan trọng và là nguyên tắc bắt buộc. Nguyên tắc pháp chế XHCN trong quản lý nhà nướcquốc phòng đòi hỏi quá trình xây dựng các văn bản pháp luật về quốc phòng phải kịp thời, thống nhất và ổn định tương đối, đáp ứng được yêu cầu của công tác quốc phòng đặt ra. Thứ ba, nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ Đây là một nguyên tắc rất cần thiết và mang tính tất yếu khách quan xuất phát từ đặc điểm quản lý quốc phòng, từ mô hình tổ chức và thực tiễn hoạt động quản lý quốc phòng của lực lượng quân sự. Ở Trung ương, Bộ Quốc phòng thực hiện chức năng Quản lý nhà nước về quốc phòng trên phạm vi cả nước.
10 luan an Ngoài việc, Nhà nước thực hiện việc xây dựng các chiến lược, kế hoạch quản lý tầm vĩ mô, các lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng còn phải trực tiếp tiến hành các hoạt động bảo vệ Tổ quốc, quản lý, đấu tranh phòng chống các thế lực thù địch trên mọi mặt trận. Các lực lượng quân sự các cấp được tổ chức theo nguyên tắc song trùng trực thuộc: vừa chịu sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền cùng cấp, vừa chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của Ban chỉ huy quân sự cấp trên theo đúng quy định của pháp luật. Xuất phát từ tính chất, đặc điểm, đặc trưng về chuyên môn nghiệp vụ của công tác quốc phòng, cũng như từ nguyên tắc song trùng, nên trong quản lý nhà nước về quốc phòng cần phải quán triệt nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ, trong đó quản lý theo ngành là chủ yếu. Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về quốc phòng Quốc phòng được thể hiện ở nhiều nội dung, nhiều công việc.Đây là lĩnh vực trực tiếp diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc hết sức quyết liệt, phức tạp.
Bản thân quốc phòng mang bản chất chính trị, giai cấp sâu sắc. Vì vậy, quản lý nhà nước về quốc phòng cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc. Đó là bản chất của giai cấp công nhân, do Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, bản chất đó được biểu hiện ở mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội” [16].
Đây vừa là định hướng chiến lược quốc phòng, an ninh, vừa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, 11 luan an trong đó xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng hợp lý, với chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu là sự cụ thể hoá mối quan hệ biện chứng giữa hai nhiệm vụ chiến lược.