Tổng quan nghiên cứu

Quản lý nhà nước trong lĩnh vực lâm nghiệp giữ vai trò sống còn đối với sự phát triển bền vững của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và bảo đảm an ninh biên giới quốc gia. Tại huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh, tổng diện tích đất lâm nghiệp đạt 47.013 ha, chiếm tới 87,5% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện. Ngành lâm nghiệp đóng vai trò xương sống trong cơ cấu sinh kế của người dân, đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 9,4%/năm và nâng tỷ lệ che phủ rừng lên mức 67,3%. Tuy nhiên, phương thức khai thác tài nguyên rừng tại địa phương vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng khi chưa tạo được bước đột phá trong chuyển hóa rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn. Nguồn nguyên liệu chủ yếu vẫn phụ thuộc vào cây keo và bạch đàn năng suất thấp, trong khi tình trạng xâm lấn đất rừng và tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng vẫn diễn biến phức tạp với 52 vụ vi phạm bị xử lý.

Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Lô Thị Thu tập trung giải quyết mục tiêu đánh giá toàn diện thực trạng quản lý nhà nước về lâm nghiệp, nhận diện các rào cản và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý tại huyện Bình Liêu. Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi không gian gồm 7 đơn vị hành chính cấp xã với 43,168 km đường biên giới tiếp giáp Trung Quốc, sử dụng chuỗi số liệu thống kê trong giai đoạn 2020 - 2022. Ý nghĩa của công trình thể hiện rõ nét qua việc cung cấp cơ sở khoa học để tái cơ cấu ngành lâm nghiệp địa phương, hướng tới mục tiêu duy trì độ che phủ rừng trên 67% và bảo đảm sinh kế bền vững cho 6.931 chủ rừng trên toàn địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế kết hợp với khung quản trị tài nguyên rừng công cộng để làm sáng tỏ các mối quan hệ quản lý trên địa bàn cấp huyện. Theo Luật Lâm nghiệp năm 2017, lâm nghiệp được định danh là ngành kinh tế - kỹ thuật đặc thù bao gồm quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản. Hoạt động quản lý lâm nghiệp chịu sự chi phối của quy luật sinh học với chu kỳ sản xuất kéo dài hàng chục năm, rủi ro tự nhiên cao và đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng mô hình phân cấp quản lý hành chính địa phương theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương, làm rõ thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và Hạt Kiểm lâm trong điều hành quỹ đất lâm nghiệp. Hệ thống khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: phân loại ba loại rừng theo Quyết định số 3722/QĐ-UBND với 18.208 ha rừng phòng hộ và 22.917 ha rừng sản xuất, cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, cùng các công cụ quản lý hành chính, quy hoạch và kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực chứng. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh, báo cáo chuyên đề của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm và hệ thống văn bản pháp quy giai đoạn 2020 - 2022.

Đối với dữ liệu sơ cấp, tác giả xác định quy mô mẫu điều tra dựa trên tổng thể 6.931 chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Bình Liêu. Công thức Slovin được áp dụng với mức sai số chuẩn e = 0,05 để tính toán dung lượng mẫu tối thiểu là 378 đối tượng, thực tế tác giả đã tiến hành khảo sát ngẫu nhiên phân tầng đối với 380 chủ rừng đại diện cho các tiểu vùng sinh thái. Đồng thời, nghiên cứu tiến hành điều tra toàn bộ 100% cán bộ phụ trách quản lý gồm 3 lãnh đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng 35 công chức thuộc Hạt Kiểm lâm huyện. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh tổng hợp được xử lý qua phần mềm Microsoft Excel 2016. Tác giả sử dụng thang đo Likert 5 mức độ từ 1,0 đến 5,0 nhằm định lượng chính xác nhận thức và đánh giá khách quan của các nhóm đối tượng về mức độ tác động của các nhân tố quản lý nhà nước trong chu kỳ nghiên cứu 2020 - 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, công tác quy hoạch và phân định đất lâm nghiệp đã đạt kết quả quan trọng với 41.125 ha rừng được lập hồ sơ quản lý, bao gồm 31.141 ha đất có rừng và 9.983 ha đất chưa có rừng. Tỷ lệ che phủ rừng đạt mức 67,3%, tuy nhiên cơ cấu rừng sản xuất chiếm 22.917 ha chủ yếu vẫn là các loài cây ngắn ngày như keo và bạch đàn phục vụ băm dăm, chưa hình thành được các vùng chuyên canh cây bản địa gỗ lớn có giá trị kinh tế vượt trội.

Thứ hai, giá trị sản xuất lâm nghiệp duy trì mức tăng trưởng bình quân 9,4%/năm, đóng góp vào đà tăng trưởng chung của toàn tỉnh Quảng Ninh khi giá trị ngành tăng từ 716,106 tỷ đồng năm 2019 lên 982,423 tỷ đồng năm 2022, tương đương mức tăng 37,2%. Mặc dù vậy, giá trị thu về trên mỗi hecta đất rừng tại Bình Liêu vẫn thấp hơn nhiều so với tiềm năng sinh thái của địa phương.

Thứ ba, tình trạng vi phạm pháp luật lâm nghiệp vẫn còn nhức nhối. Trong giai đoạn 2016 - 2020, các lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 52 vụ vi phạm, trong đó vi phạm về tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng trái phép chiếm 8 trường hợp, tương đương 15,38% tổng số vụ.

Thứ tư, nguồn lực bộ máy quản lý còn quá mỏng so với quy mô địa bàn. Toàn huyện chỉ có 35 cán bộ kiểm lâm và 3 cán bộ phòng nông nghiệp chịu trách nhiệm quản lý 47.013 ha đất lâm nghiệp, tức bình quân mỗi công chức phải phụ trách trên 1.237 ha rừng trong điều kiện địa hình chia cắt phức tạp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những tồn tại trên xuất phát từ rào cản nhận thức của người dân tại 5 xã đặc biệt khó khăn, nơi thói quen canh tác nương rẫy truyền thống và áp lực mưu sinh trước mắt lấn át ý thức bảo vệ tài nguyên dài hạn. Địa hình hiểm trở với đỉnh núi Cao Xiêm cao 1.330 m và Cao Ba Lanh cao 1.050 m gây cản trở lớn cho công tác tuần tra biên giới và ứng trực chữa cháy rừng.

So sánh với kinh nghiệm quản lý tại huyện Con Cuông thuộc tỉnh Nghệ An - địa phương quản lý 154.600 ha đất lâm nghiệp, huyện này đã kéo giảm số vụ vi phạm lâm luật từ 15% đến 20% mỗi năm nhờ thiết lập mạng lưới tổ đội quần chúng bảo vệ rừng gắn với mô hình sinh kế nông lâm kết hợp. Tương tự, huyện Lục Yên thuộc tỉnh Yên Bái duy trì tỷ lệ che phủ rừng đạt 68,2% năm 2022 nhờ đẩy mạnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp gắn với giao rừng thực địa.

Để nâng cao chất lượng phân tích trong các báo cáo định kỳ, dữ liệu kiểm kê rừng tại Bình Liêu nên được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu ba loại rừng, kết hợp với biểu đồ cột kép so sánh diện tích trồng mới với số vụ vi phạm qua các năm. Việc này giúp nhận diện rõ xu hướng dịch chuyển không gian rừng và đánh giá chính xác tác động của các quyết định hành chính.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực thực thi công vụ cho lực lượng kiểm lâm. Ủy ban nhân dân huyện Bình Liêu phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh bổ sung tối thiểu 15% biên chế kiểm lâm địa bàn trong giai đoạn 2024 - 2026. Đơn vị cần hoàn thành 100% việc tập huấn kỹ năng ứng dụng hệ thống định vị vệ tinh GPS và máy bay không người lái phục vụ giám sát biến động rừng trước quý III năm 2025.

Thứ hai, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn tập trung. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện chủ trì xây dựng đề án chuyển đổi ít nhất 3.000 ha rừng keo thoái hóa sang trồng các loài cây bản địa lâu năm như lim, dổi, lát và cây đặc sản hồi, quế, sở giai đoạn 2024 - 2028, phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt trên 10%/năm.

Thứ ba, siết chặt kỷ cương thanh tra, kiểm tra và phân định mốc giới rừng. Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với chính quyền 7 xã, thị trấn hoàn thành việc rà soát và cắm mốc ranh giới cho 41.125 ha rừng quy hoạch trên nền bản đồ số trong năm 2025, phấn đấu giảm ít nhất 25% số vụ xâm lấn đất rừng và chuyển đổi trái phép trong chu kỳ 2024 - 2026.

Thứ tư, mở rộng cơ chế hỗ trợ tài chính và chi trả dịch vụ môi trường rừng. Ủy ban nhân dân huyện kiến nghị Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh bố trí nguồn ngân sách ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội cho 380 hộ chủ rừng vay vốn ưu đãi chu kỳ 7 - 10 năm. Đồng thời, địa phương cần giải ngân triệt để nguồn thu dịch vụ môi trường rừng trên 18.208 ha rừng phòng hộ, bảo đảm nguồn thu bổ sung đạt trên 2,5 tỷ đồng/năm để hỗ trợ người dân tham gia tuần tra bảo vệ rừng trước năm 2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, đội ngũ cán bộ lãnh đạo Ủy ban nhân dân và công chức kiểm lâm cấp huyện, cấp xã. Công trình cung cấp quy trình quản lý thực địa chi tiết cho 41.125 ha rừng và giải pháp xử lý tranh chấp đất lâm nghiệp tại các địa bàn vùng cao có đường biên giới kéo dài 43,168 km.

Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội tại tỉnh Quảng Ninh. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn sắc bén để địa phương xây dựng cơ chế phân bổ nguồn lực đặc thù cho 5 xã đặc biệt khó khăn, phục vụ chiến lược chuyển đổi phương thức phát triển từ nâu sang xanh của tỉnh.

Thứ ba, cộng đồng các chủ rừng và hợp tác xã lâm nghiệp trên địa bàn huyện. Tài liệu định hướng rõ lộ trình thay thế cây keo bằng các mô hình canh tác cây bản địa có giá trị kinh tế cao trên diện tích 22.917 ha rừng sản xuất nhằm tối ưu hóa chuỗi giá trị thương mại.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế và Quản lý tài nguyên môi trường. Đề tài đóng vai trò là một tài liệu tham khảo thực chứng chuẩn mực với bộ dữ liệu khảo sát 380 chủ rừng và phương pháp định lượng thang đo Likert chặt chẽ.

Câu hỏi thường gặp

Quản lý nhà nước về lâm nghiệp tại huyện Bình Liêu có nét đặc thù nổi bật nào so với các địa bàn trung du? Huyện mang tính chất đặc thù của vùng miền núi biên giới khi đất lâm nghiệp chiếm tới 87,5% diện tích tự nhiên, sở hữu 43,168 km đường biên giới quốc gia và 5 trên 7 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn. Công tác quản lý tại đây không chỉ giải quyết bài toán kinh tế mà còn gánh vác trọng trách an ninh quốc phòng và bảo tồn bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Phương pháp xác định cỡ mẫu 380 chủ rừng trong đề tài bảo đảm tính khoa học ra sao? Cỡ mẫu được tính toán chuẩn xác qua công thức xác suất Slovin từ tổng thể 6.931 chủ rừng trên địa bàn huyện với sai số cho phép e = 0,05, cho ra quy mô mẫu tối thiểu là 378 cá nhân. Tác giả đã khảo sát thực tế 380 chủ rừng phân bổ đều tại các xã, kết hợp phỏng vấn toàn diện 38 cán bộ quản lý lâm nghiệp, bảo đảm độ tin cậy và tính đại diện thống kê cao.

Đâu là điểm nghẽn lớn nhất trong việc phát triển rừng gỗ lớn tại địa phương hiện nay? Rào cản lớn nhất là chu kỳ sinh trưởng của cây gỗ lớn kéo dài từ 15 đến 20 năm, khiến vốn đầu tư bị ứ đọng và đối mặt với rủi ro thiên tai cao. Trong khi đó, người dân địa phương tại các xã vùng sâu có tiềm lực tài chính yếu, phụ thuộc vào nguồn thu ngắn ngày từ cây keo chu kỳ 4 đến 5 năm và thiếu các gói tín dụng ưu đãi dài hạn.

Bình Liêu có thể học tập được kinh nghiệm gì từ mô hình bảo vệ rừng của huyện Con Cuông? Huyện có thể áp dụng bài học thành lập các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng cấp thôn bản kết hợp với việc giao khoán rừng gắn liền quyền lợi sinh kế trực tiếp. Mô hình này tại Con Cuông đã giúp giảm từ 15% đến 20% số vụ vi phạm lâm luật mỗi năm nhờ phát hiện và ngăn chặn sớm các điểm nóng khai thác gỗ trái phép từ gốc.

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đóng vai trò như thế nào trong quản lý lâm nghiệp tại huyện? Chính sách này tạo lập nguồn tài chính bền vững ngoài ngân sách nhà nước, tác động trực tiếp đến 18.208 ha rừng phòng hộ đầu nguồn. Khi nguồn thu chi trả dịch vụ đạt mức hàng tỷ đồng mỗi năm, người dân nhận khoán bảo vệ rừng sẽ có thu nhập ổn định, tạo động lực kinh tế vững chắc để giảm thiểu hành vi phá rừng làm nương rẫy.

Kết luận

  • Công trình đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước trong lĩnh vực lâm nghiệp trên quy mô địa bàn cấp huyện miền núi biên giới.
  • Nghiên cứu phản ánh sát thực hiện trạng 47.013 ha đất lâm nghiệp huyện Bình Liêu, ghi nhận tỷ lệ che phủ rừng đạt 67,3% nhưng cũng chỉ rõ 52 vụ vi phạm lâm luật cần giải quyết.
  • Luận văn lượng hóa chuẩn xác nhận thức của 380 chủ rừng và 38 cán bộ quản lý thông qua phương pháp chọn mẫu khoa học và thang đo độ tin cậy cao.
  • Đề tài đúc rút các bài học kinh nghiệm sâu sắc từ huyện Con Cuông và Lục Yên để định hình 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá về nhân lực, cây giống, thanh tra và tài chính.
  • Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng cao cho giai đoạn 2024 - 2030, thúc đẩy các nhà quản lý địa phương nhanh chóng hành động để hiện thực hóa mục tiêu kinh tế lâm nghiệp bền vững.