CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA KHU CÔNG NGHIỆP 1.1 Khái niệm Khu công nghiệp Hiện nay, ở các quốc gia phát triển thì khu công nghiệp (KCN) là mô hình phát triển kinh tế quan trọng. Việc thành lập KCN đã và đang trở thành giải pháp quan trọng để các quốc gia trong đó có Việt Nam thu hút đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do đó, việc nghiên cứu, phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận, cũng như các quy định của pháp luật về KCN là vô cùng cần thiết. KCN là một khái niệm mang tính lịch sử và phụ thuộc vào nhiều quan niệm về hoạt động sản xuất hàng hóa công nghiệp, hoạt động kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như phụ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử cụ thể 1.
Do đó, việc xác định khái niệm về KCN cho các quốc gia là một điều không hề đơn giản. Cho đến nay, chưa có một khái niệm thống nhất nào về KCN giữa các quốc gia2. Theo tác giả Cấn Văn Minh thì “KCN sự tập trung về địa lý của các doanh nghiệp, của các nhà cung cấp dịch vụ, của những người được hưởng dịch vụ, của các ngành công nghiệp và các tổ chức có liên quan trong lĩnh vực cụ thể có cạnh tranh nhưng cũng có hợp tác”3. Theo khái niệm này, thì KCN là sự tập trung các doanh nghiệp trong một cụm liên kết với nhau theo nhiều cách hoặc dựa vào đặc trưng về hoàn cảnh địa lý, các doanh nghiệp bố trí tập trung lại với nhau hình KCN.
Ngoài ra, cung có quan điểm cho rằng: “KCN là khu vực tương đối nhỏ, phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tư mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà. Trong đó, đặc biệt là KCN cho phép nhập khẩu hàng hóa dùng cho sản 1 Nguyễn Huy Kiệm (2009), “Công tác QLNN tại các địa phương có KCN”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, (10), tr. 2 Cấn Văn Minh (2005), “Hoàn thiện cơ chế pháp lý về KCN, khu chế xuất một nhu cầu cấp bách cho việc phát triển kinh tế - xã hội, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (4), tr. 3 Cấn Văn Minh (2009), “Hoàn thiện chính sách pháp luật về KCN, khu chế xuất trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (4), tr.
8 xuất để xuất khẩu miễn thuế”4. Khoản 16 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020 quy định: “KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và cung ứng dịch vụ cho sản xuất công nghiệp”. Ngoài Luật Đầu tư năm 2020 Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ về quản lý KCN và khu kinh tế thì “KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục theo quy định của pháp luật”. Như vậy, mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về KCN, nhưng có thể khái quát lại như sau: “KCN là khu vực có giới hạn nhất định được xây dựng cơ sở hạ tầng và pháp lý phù hợp với sản xuất công nghiệp, tập trung các doanh nghiệp, chi nhánh, doanh nghiệp dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống” 5.2 Đặc điểm Khu công nghiệp Căn cứ vào các quy định của pháp luật, KCN có các đặc điểm như sau: Đặc điểm tự nhiên: KCN là nơi được quy hoạch và xây dựng ở những nơi có vị trí địa lý thuận lợi, đòi hỏi phải có diện tích lớn, gần sông, bến cảng thuận tiện cho việc vận chuyển, giao lưu kinh tế lớn, địa hình bằng phẳng thích hợp cho việc xây dựng các nhà máy, công trình công nghiệp.
Đồng thời, KCN có ranh giới địa lý xác định, phân biệt với các vùng lãnh thổ khác và thường không có dân cư sinh sống bởi KCN thường tập trung nhiều doanh nghiệp, xí nghiệp trong một khu vực có ranh giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng. Hiện nay, các KCN đều được xác định ranh giới cụ thể bằng hệ thống hàng rào KCN để phân biệt các vùng còn lại thuộc lãnh thổ quốc gia. Do đó, khi xây dựng các KCN sẽ lấn chiếm, gây sức ép lên diện tích đất đô thị, thậm chí là xung đột với nhu cầu đất của dân cư. Chính vì vậy, khi xây dựng KCN phải cân đối, hài hòa, hợp lý với các khu đất dành cho sinh hoạt, nông lâm nghiệp, thủy sản và cho các KCN tập trung6.
Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật: KCN là nơi tập trung máy móc thiết bị để sản xuất các sản phẩm công nghiệp ở mật độ cao. Do đó, đây là nơi tiêu thụ một lượng lớn nguyên, vật liệu và thải ra môi trường một lượng lớn chất thải nếu không được xử lý 4 Lê Hồng Yến (2007), “Hoàn thiện mô hình tổ chức QLNN đối với KCN”, Tạp chí QLNN, (4), tr. 5 Phan Toàn Minh Thư (2015), “Hoàn thiện mô hình tổ chức QLNN đối với KCN”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, (22), tr. 6 Nguyễn Ngọc Yến (2012), “Sử dụng đất KCN, cụm công nghiệp và một số giải pháp cấp bách”, Tạp chí Tài nguyên và môi trường, (12), tr.
9 đúng quy trình thì nguy cơ gây ra ô nhiễm môi trường là rất lớn. Do tính tập trung sản xuất mật độ cao nên đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của KCN cũng có những điểm riêng biệt. Cụ thể như sau: - Về trình độ kỹ thuật: Các KCN thường sử dụng kỹ thuật hiện đại thuộc các ngành công nghiệp mũi nhọn để phục vụ cho việc phát triển công nghiệp. - Về chức năng hoạt động: KCN là nơi tập trung sản xuất công nghiệp với số lượng lớn các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm công nghiệp trong một phạm vi nhất định.
Theo đó, các doanh nghiệp trong KCN phải chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật của nước sở tại7. - Về thành lập: KCN do Chính phủ hoặc các cơ quan chức năng được Chính phủ ủy nhiệm quyết định thành lập. Đặc điểm chính trị - xã hội: KCN là nơi tập trung số lượng lớn lao động, do đó nhiều vấn đề xã hội sẽ phát sinh. Dễ thấy nhất là vấn đề cư trú của những lao động ở xa, những lao động này thường ở nhà trọ nên nơi cư trú không ổn định, cũng không có sự quản lý từ phía gia đình nên công tác quản lý sẽ rất khó khăn.
Hơn thế nữa, sự biến động về lao động sẽ gây sức ép lên hệ thống y tế, giáo dục, nhà ở tại địa phương có KCN. Đây là nguyên nhân tiềm ẩn gây nhiều hậu quả xã hội cho địa phương, bởi trong quá trình hoạt động của KCN những xung đột sẽ phát sinh dẫn đến các hậu quả như: đình công, bãi công gây ảnh hưởng đến sự phát triển của KCN. Chính vì vậy, để hạn chế những vấn đề phát sinh trên thì khi thành lập KCN thì địa phương phải có những kế hoạch kịp thời để ứng phó với những yếu tố phát sinh này. Như vậy, KCN mang những đặc điểm đặc thù về tự nhiên, kinh tế - kỹ thuật và chính trị - xã hội.
Do đó, khi thành lập KCN phải bảo đảm các vấn đề nêu trên để KCN hoạt động hiệu quả. Đồng thời, cơ quan chức năng quản lý, điều hành các vấn đề trong KCN phải bám sát vào các đặc điểm KCN để có cơ chế quản lý, giám sát, điều hành hợp lý.3 Vai trò của Khu công nghiệp Cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra nhiều yêu cầu đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung cũng như đối với phát triển KCN nói riêng. Việc hình thành các KCN có tác động rất lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế ở địa phương. Do đó, trong quá trình hoạt động thì KCN có một số vai trò đặc biệt quan trọng đối với 7 Lê Thị Thùy Lưu (2015), “Thúc đẩy thu hút đầu tư nhằm hoàn thiện kết cấu hạ tầng các KCN Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, (9), tr.
10 sự phát triển kinh tế như sau: Thứ nhất, KCN phương thức thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển nền kinh tế. Do đặc điểm KCN là nơi được đầu tư cơ sở hạ tầng hiện đại và thu hút các nhà đầu tư trên cùng một không gian lãnh thổ do vậy KCN tập trung và kết hợp sức mạnh nguồn vốn trong và ngoài nước. Cùng với quy chế quản lý thống nhất các chính sách ưu đãi, từ đó KCN đã tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Việc khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư vào KCN đa dạng với nhiều hình thức sẽ thu hút được các doanh nghiệp lớn tham gia, đây là nguồn vốn tiềm tàng có tác động tích cực thúc đẩy sự lưu thông và hoạt động của nguồn vốn trong nước.
Để làm được đều này đòi hỏi các chính sách phát triển KCN phải phù hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty nước ngoài tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận. Đồng thời, KCN giúp cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho việc phát triển kinh tế - xã hội, là đầu mối thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước. Vốn đầu tư từ nước ngoài là nguồn có tính chất quyết định, có vai trò chủ yếu cho việc phát triển kinh tế quốc gia. Đồng thời, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước nói chung và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương nói riêng.
Mặt khác, vốn đầu tư nước ngoài còn góp phần quan trọng vào việc đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ vào sản xuất. Hơn thế nữa là thu hút vốn đầu tư nước ngoài còn có tác động tích cực thúc đẩy sự lưu thông và hoạt động vốn trong nước8. Do đó, xây dựng KCN là bước hợp lý để tận dụng mọi nguồn lực hiện có để phát triển dần các ngành công nghiệp ở địa phương theo hướng hiện đại. Chính vì vậy, các địa phương cần tập trung nguồn lực để trang bị cho các KCN cơ sở hạ tầng hiện đại đáp ứng nhu cầu sản xuất với quy mô lớn.