phần mở đầu và kết luận, danh mục bảng biểu, từ viết tắt, tài liệu tham khảo, phụ lục thì Luận văn có kết cấu gồm 4 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN đối với các KCN Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng QLNN đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Chƣơng 4: Giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC KCN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Xây dựng và phát triển khu công nghiệp KCN đã hình thành và phát triển ở các nƣớc tƣ bản phát triển vào những năm cuối thế kỷ 19 nửa đầu thế kỷ 20. Ở các nƣớc đang phát triển để thu hút nhanh vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, giải pháp xây dựng các KCN, KKT là tiêu điểm đƣợc quan tâm hàng đầu.
Do vậy các cuộc hội thảo, Hội Nghị, các công trình nghiên cứu về KCN- KCX đƣợc diễn ra phổ biến ở các nƣớc đang phát triển. Các công trình đã đề cập đến vấn đề xây dựng và phát triển các KCN-KKT ở các mức độ và phạm vi khác nhau, không những về mặt lý luận mà còn cả về mặt thực tiễn. Những nội dung này đƣợc khái quát qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: - Nguyễn Xuân Thu (1992) đã tập trung phân tích phƣơng pháp đồng bộ hóa một KCN ở Việt Nam khi chuyển sang nền kinh tế theo cơ chế thị trƣờng. - Chế Đinh Hoàng (1996) đã đánh giá thực trạng phát triển KCN ở Hà Nội trƣớc năm 1996 và đề xuất các giải pháp việc cải tạo và hoàn thiện các KCN tập trung của Hà Nội.
- Phạm Đình Tuyển (2001) cuốn sách đã tập trung viết về việc lựa chọn quy hoạch KCN, chủ yếu là vị trí đặt KCN. - Trần Ngọc Hƣng (2004) đã đề ra các giải pháp hoàn thiện và phát triển các KCN ở Việt Nam. - Nguyễn Văn Việt (2004) đã đề xuất đổi mới mô hình quản lý và đƣa ra giải pháp phát triển hạ tầng dịch vụ các KCN và chế xuất trên địa bàn thành phố Hà Nội. - Nguyễn Đình Thi (2005) đã đề xuất giải pháp xây dựng các khu chức năng nhà ở, khu phục vụ công cộng trong việc xây dựng phát triển các KCN ở Hà Nội.
- Nguyễn Văn Việt (2006-2007) đã đƣa ra thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lƣợng dịch vụ hỗ trợ doah nghiệp trong các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Lê Hồng Yến (2007) đã phân tích thực trạng một số chính sách và đƣa ra mô hình tổ chức quản lý phát triển KCN ở Việt Nam - Lê Tuấn Dũng (2009) đã phân tích chính sách đầu tƣ , hoạch định phát triển Khu công nghiệp Việt nam giai đoạn 2009-2015. - Nguyễn Đình Phan và Nguyễn Kế Tuấn, (2009) giáo trình tập trung để cập chuyên sâu đến việc tập trung hóa, tổ chức sản xuất và quy hoạch phát triển KCN trên vùng lãnh thổ và các loại hình KCN - Hà Thị Thúy (2010) đã tập trung phân tích vai trò của KCN đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở Bắc Giang. Hoạt động quản lý các khu công nghiệp trên cả nước Hoàn Việt Trung - Đề tài cấp Bộ, Bộ KH& Đầu tƣ, (2012) đã tập trung vào đánh giá quá trình hình thành, xây dựng và phát triển KCN trên cả nƣớc sau hai mƣơi năm, từ đó đề xuất một số quan điểm, định hƣớng và giải pháp về tiếp tục mô hình phát triển KCN.
- Vũ Đại Thắng ( 2011) đã chỉ ra những tồn tại trong việc áp dụng cơ chế, chính sách vào mỗi địa phƣơng, nhƣ hội chứng ồ ạt thành lập các KCN khi chƣa đƣợc chuẩn bị kỹ lƣỡng; Sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phƣơng về thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài vào KCN; Các vấn đề về ô nhiễm môi trƣờng, vấn đề quản lý. Các nghiên cứu này cũng đề xuất thay đổi cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo cho phát và bảo vệ môi trƣờng các KCN trên phạm vi cả nƣớc. - Búi Thế Cử (2014) đã phân tích vai trò của phát triển KCN, các KCN đối với sự nghiệp CNH –HĐH, những bất cập về hoạt động quản lý đối với các KCN. -Vũ Việt Đức, Pham Tuấn Giang, (2014) đã đƣa ra kết luận phát triển các KCN Việt Nam chƣa bền vững, hiệu quả chƣa cao, chƣa mang tính dài hạn, nhân lực trình độ thấp.
- Lê Thành Quân (2013) đã phân tích thực trạng vấn đề ô nhiễm môi trƣờng ở các KCN, đồng thời đƣa ra giải pháp phát triển đi đôi với bảo vệ môi trƣờng. - Ngô sỹ Bích (2015) đã đề cập đến công tác xây dựng quy hoạch phát triển các KCN, tình hình đầu tƣ xây dựng hạ tầng và thu hút đầu tƣ vào KCN định hƣớng và giải pháp phát triển các KCN đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của các khu công nghiệp 1.
Các khái niệm liên quan đến khu công nghiệp 1. Khái niệm khu kinh tế, cụm công nghiệp. Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trƣờng đầu tƣ và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tƣ, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của pháp luật Cụm công nghiệp là khu tâ ̣p chung các doanh nghiê ̣p , cơ sở sản xuấ t công nghiê ̣p – tiể u công nghiê ̣p , cơ sở dich ̣ vu ̣ phu ̣c vu ̣ sản xuấ t công nghiê ̣p – tiể u thủ công nghiê ̣p, có ranh giới địa lý xác định , không có dân cƣ sinh số ng , đƣơ ̣c đầ u tƣ xây dựng chủ yếu nhằm di dời , sắ p xế p , thu hút các cơ sở sản xuấ t , các doanh nghiê ̣p vƣ̀a và nhỏ , các cá nhân, hô ̣ gia đình ở điạ phƣơng vào đầ u tƣ sản xuấ t , kinh doanh, do Ủ y ban nhân dân các tỉnh , thành phố trực thuộc trung ƣơng (sau đây go ̣i tắ t là Ủy ban nhân dân cấ p tin ̉ h) quyế t đinh ̣ thành lâ ̣p. Cụm công nghiệp có quy mô diện tích không quá 50 (năm mƣơi) ha.
Trƣờng hợp cần thiết phải mở rộng cụm công nghiệp hiện có thì tổng diện tích sau khi mở rộng cũng không vƣợt quá 75 (bẩy mƣơi lăm) ha. Khái niệm khu công nghiệp, khu chế xuất. KCN đã hình thành và phát triển ở các nƣớc tƣ bản phát triển vào những năm cuối thế kỷ 19 nửa đầu thế kỷ 20. Tại Việt nam KCN đƣợc đề cập đến từ khi miền Bắc xây dựng khu Gang thép Thái Nguyên; miền Nam xây dựng KCN Biên Hòa.
Nhƣng chỉ đến khi có Luật đầu tƣ nƣớc ngoài năm (1986), khái niệm về KCN mới đƣợc chính thức nêu ra. Tại khoản 14 và 15 Điều 2 theo văn bản này, “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp”. Trong Quy chế KCN, KCX, khu công nghệ cao (KCNC) ban hành kèm theo Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997của Chính phủ, khái niệm KCN đƣợc nêu tại khoản 2 và 3 Điều 2 nhƣ sau: KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp có ranh giới đại lý xác định, không 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có dân cƣ sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ Tƣớng Chính phủ quyết định thành lập, trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất. Theo Luật đầu tƣ số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 thì KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo quy định của Chính phủ Căn cứ theo Nghị định số 29/2008/NĐ – CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về KCN, KCX và KKT: Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này.
Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định này. Các đặc điểm của khu công nghiệp 1. Đặc điểm tự nhiên của khu công nghiệp KCN thƣờng đƣợc xây dựng ở những nơi có vị trí địa lý thuận lợi nhƣ gần các đƣờng giao thông, thuận tiện trong giao lƣu với các trung tâm kinh tế lớn, gần cảng, biển, sân bay… KCN đòi hỏi phải có diện tích đất khá lớn, tập trung tại một địa điểm, địa hình tƣơng đối bằng phẳng, thích hợp cho xây dựng các công trình công nghiệp, gần nguồn nƣớc, có cơ sở hạ tầng thích hợp. Đặc điểm kinh tế-kỹ thuật của các khu công nghiệp KCN thƣờng tập trung nhiều nhà máy, doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp chế tạo khác nhau, đồng thời cũng sử dụng lƣợng lớn nguyên, nhiên vật liệu, năng lƣợng và thải ra lƣợng chất thải khổng lồ.
Do tính tập trung sản xuất công nghiệp ở mật độ cao nhƣ vậy nên các KCN thƣờng gây ra các tác động môi trƣờng tiêu cực nhƣ tiếng ồn, ô nhiễm nguồn nƣớc, không khí. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc điểm xã hội và hành chính của các khu công nghiệp KCN sử dụng lƣợng lao động lớn nên kéo theo nhiều hậu quả xã hội. Dễ thấy nhất là vấn đề ngƣời lao động ngụ cƣ.
Những ngƣời này vừa không có nhà ở, không có sự hỗ trợ của gia đình, không ổn định nên rất khó quản lý. Hơn nữa, sự biến động đột biến của lƣợng lao động ngụ cƣ có thể gây sức ép lên hệ thống giáo dục, y tế và nhà ở của địa phƣơng. Hơn nữa, trong quá trình vận hành các KCN thƣờng xuất hiện các vụ xung đột giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động, dễ gây thành các cuộc đình công, bãi công lớn do tính chất lây truyền và do các doanh nghiệp ở gần nhau. Nếu các tổ chức chính trị, xã hội không khéo léo giải quyết các xung đột này có thể gấy bất ổn cho cả vùng.