Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động công nghiệp hóa nông thôn tại Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết về việc hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái. Tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 11,8% vào năm 2020 cùng mức thu nhập bình quân đầu người 32,5 triệu đồng/năm đã thúc đẩy nhu cầu xây dựng hạ tầng kỹ thuật tăng vọt. Nhu cầu vật liệu xây dựng, đặc biệt là gạch xây dựng, tăng cao đã kéo theo sự phát triển nhanh chóng của các cơ sở sản xuất gạch. Tuy nhiên, việc vận hành các cơ sở sản xuất gạch đất sét nung truyền thống gây phát thải lượng lớn khí nhà kính và tiêu tốn tài nguyên đất nghiêm trọng. Điều này đi ngược lại định hướng cam kết quốc gia về giảm 8% phát thải khí nhà kính vào năm 2030 theo thỏa thuận quốc tế của Việt Nam.

Trước yêu cầu thực thi Quyết định số 115/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Công văn số 803/UBND-TNMT của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc chấm dứt sản xuất gạch thủ công, chính quyền địa phương đối mặt với nhiều áp lực quản lý. Chi phí xây dựng vỏ lò nung công nghệ tiên tiến có hệ thống xử lý khói thải lên tới khoảng 800 triệu đồng cho mỗi lò, khiến các hộ sản xuất tư nhân gặp nhiều trở ngại tài chính.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung đánh giá toàn diện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất gạch xây dựng trên địa bàn huyện Phú Lương giai đoạn 2018-2020. Nghiên cứu phân tích các khía cạnh ban hành văn bản, lập quy hoạch sử dụng đất, tổ chức bộ máy, quan trắc môi trường và công tác thanh tra liên ngành. Công trình có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế quản lý trên tổng diện tích tự nhiên 36.894,6 ha của huyện, đảm bảo cân bằng giữa phát triển công nghiệp và bảo vệ môi trường sống bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý luận kinh tế chính trị về quản lý kinh tế của nhà nước kết hợp nguyên lý phát triển bền vững dựa trên ba trụ cột: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Hoạt động quản lý nhà nước về sản xuất gạch được xác định là quá trình các cơ quan có thẩm quyền sử dụng hệ thống công cụ pháp luật, quy hoạch, tài chính và hành chính để điều tiết chu trình sản xuất gạch xây dựng. Chu trình này bao gồm hai giai đoạn cốt lõi: khai thác tài nguyên tự nhiên (đất sét, nguồn nước) và chế biến nhiệt biến đổi nguyên liệu thành thành phẩm.

Khung lý thuyết luận văn tập trung vào 4 khái niệm nền tảng:

  • Quản lý nhà nước về kinh tế: Sự tác động có tổ chức và mang tính quyền lực của cơ quan công quyền nhằm hướng dẫn, điều tiết các chủ thể kinh doanh hoạt động theo định hướng chung của quốc gia.
  • Sản xuất gạch xây dựng: Quá trình khai thác, phối trộn nguyên liệu sét và nung đốt ở nhiệt độ cao hoặc liên kết đóng rắn không nung để tạo ra vật liệu xây dựng chịu lực.
  • Quản lý tài nguyên và môi trường: Hoạt động thanh tra, kiểm soát khai thác khoáng sản đất sét, nguồn nước và giảm thiểu phát thải bụi, khí độc theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
  • Công cụ chính sách quản lý: Hệ thống quy hoạch phân vùng, hạn ngạch khai thác đất sét, phí bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường (QCVN).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm đảm bảo tính chuẩn xác và độ tin cậy khoa học. Dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 3 năm liên tiếp (2018-2020) từ Niên giám thống kê huyện Phú Lương, Báo cáo công tác quản lý đất đai và môi trường của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Lương, cùng các văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra toàn bộ (census sampling). Tác giả đã phát phiếu khảo sát đến 15/15 chủ cơ sở sản xuất gạch xây dựng đang hoạt động trên toàn địa bàn huyện Phú Lương vào tháng 6 năm 2020, đạt tỷ lệ phản hồi 100%. Lý do lựa chọn phương pháp điều tra toàn bộ là do quy mô tổng thể các đơn vị sản xuất gạch trên địa bàn huyện ở mức giới hạn, cho phép khảo sát toàn diện mà không gặp sai số chọn mẫu. Bảng hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ mức 1: Kém với khoảng điểm 1,00 - 1,79 đến mức 5: Tốt với khoảng điểm 4,20 - 5,00) để đánh giá nhận thức và mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với thủ tục hành chính, quy hoạch đất đai và công tác thanh tra. Dữ liệu khảo sát được mã hóa, tổng hợp và xử lý thống kê mô tả thông qua phần mềm Microsoft Excel để xác định giá trị trung bình và phân tích so sánh chuỗi thời gian.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất gạch tại huyện Phú Lương giai đoạn 2018-2020 cho thấy 4 phát hiện quan trọng:

  • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, áp lực việc làm nông thôn lớn: Khu vực công nghiệp - xây dựng của huyện có mức tăng trưởng nhẹ từ 16,1% năm 2018 lên 16,8% năm 2020, trong khi nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng chi phối 43,1%. Lực lượng lao động trong độ tuổi đạt 75.767 người, trong đó khu vực nông thôn chiếm 84,05% với 63.683 lao động. Điều này dẫn đến sự phụ thuộc kinh tế nặng nề của các hộ gia đình vào các lò gạch thủ công để giải quyết việc làm thời vụ.
  • Quy hoạch vùng nguyên liệu thiếu đồng bộ và rào cản vốn lớn: Trong tổng số 15 cơ sở sản xuất gạch, phần lớn các đơn vị gặp khó khăn trong việc xin cấp phép khai thác mỏ sét hợp pháp do vướng mắc thủ tục đánh giá tác động môi trường. Chi phí chuyển đổi sang công nghệ lò đứng liên tục hoặc lò tuynel có ống khói xử lý khí thải lên tới khoảng 800 triệu đồng/lò, vượt quá năng lực vốn tự có của các hộ sản xuất tư nhân.
  • Tác động môi trường và tiếng ồn tiệm cận giới hạn quy chuẩn: Kết quả quan trắc môi trường không khí và tiếng ồn tại các đơn vị quy mô lớn như Nhà máy gạch Phấn Mễ phản ánh nồng độ bụi lơ lửng và chỉ số tiếng ồn trong quá trình vận hành máy đùn, nghiền đất sét vào những đợt cao điểm nung đốt thường xuyên tiệm cận hoặc vượt ngưỡng cho phép theo QCVN 26:2016/BYT.
  • Năng lực bộ máy quản lý cấp huyện còn mỏng: Điểm đánh giá mức độ hài lòng theo thang đo Likert của các cơ sở đối với công tác tổ chức bộ máy và hỗ trợ pháp lý chỉ đạt mức trung bình (dao động từ 2,75 đến 3,15 điểm). Đội ngũ cán bộ chuyên trách lĩnh vực công nghiệp và khoáng sản tại Phòng Kinh tế và Hạ tầng, Phòng Tài nguyên và Môi trường còn thiếu về số lượng, dẫn đến hoạt động kiểm tra chủ yếu dừng lại ở việc nhắc nhở hành chính.

Thảo luận kết quả

Thực trạng quản lý gạch tại huyện Phú Lương phản ánh mối xung đột gay gắt giữa bài toán mưu sinh và yêu cầu phát triển bền vững. Nguồn lao động nông thôn dồi dào (chiếm 84,05% lực lượng lao động) tạo áp lực buộc chính quyền địa phương không thể áp dụng biện pháp đóng cửa cưỡng chế ngay lập tức các lò nung thủ công.

Để trực quan hóa các dữ liệu nghiên cứu, luận văn đã trình bày hiện trạng chuyển dịch quỹ đất 36.894,6 ha qua Bảng 3.1 và diễn biến cơ cấu kinh tế qua Bảng 3.3. Đặc biệt, chỉ số ô nhiễm tiếng ồn tại khu vực sản xuất được mô tả thông qua Biểu đồ 3.1, so sánh trực quan giá trị đo đạc thực tế với đường ngưỡng giới hạn theo QCVN 26:2016/BYT, minh chứng rõ nét mức độ ảnh hưởng của tiếng ồn cơ khí đến sức khỏe người lao động.

Khi so sánh với bài học thực tiễn tại huyện Phổ Yên (năm 2009 có gần 300 lò gạch thủ công, 100% chưa có giấy phép môi trường) và tỉnh Bắc Giang (năm 2019 có 39 lò tuynel tiêu thụ 1,4 triệu m3 đất sét nhưng chỉ 3 doanh nghiệp được cấp phép vùng mỏ), bài toán của Phú Lương mang tính quy luật chung của các vùng trung du bán sơn địa. Nếu không kiểm soát chặt chẽ quy hoạch mỏ đất sét và hỗ trợ chuyển đổi sang công nghệ gạch không nung với công suất tiêu chuẩn, tình trạng thất thoát tài nguyên và ô nhiễm môi trường không khí sẽ tiếp tục kéo dài.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng giai đoạn 2018-2020, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với ngành sản xuất gạch xây dựng tại huyện Phú Lương:

  • Hoàn thiện quy hoạch đất đai và tích tụ vùng nguyên liệu tập trung: Ủy ban nhân dân huyện Phú Lương cần chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường rà soát, khoanh vùng dứt điểm 100% các khu vực đất đồi, đất sét có thể khai thác làm gạch theo đúng quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030. Tiến hành thành lập tối thiểu 2 cụm sản xuất vật liệu xây dựng tập trung xa khu dân cư trong giai đoạn 2022-2024 nhằm di dời các lò nung nhỏ lẻ rải rác tại các xã Phấn Mễ, Động Đạt.
  • Thiết lập cơ chế hỗ trợ tài chính chuyển đổi công nghệ gạch không nung: Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện chủ trì phối hợp với các ngân hàng chính sách triển khai gói tín dụng ưu đãi, hỗ trợ từ 20% đến 30% lãi suất vay vốn cho các chủ cơ sở đầu tư dây chuyền sản xuất gạch bê tông không nung công suất từ 5 triệu viên/năm trở lên. Lộ trình thực hiện giải ngân bắt đầu từ năm 2022 đến hết năm 2025.
  • Tăng cường thanh tra liên ngành và hiện đại hóa thiết bị giám sát môi trường: Thành lập đoàn kiểm tra liên ngành thường trực giữa lực lượng Cảnh sát môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường cùng chính quyền cấp xã. Đặt mục tiêu kiểm tra định kỳ và đột xuất tối thiểu 4 đợt/năm đối với các cơ sở nung đốt; kiên quyết xử phạt vi phạm hành chính và đình chỉ 100% cơ sở xả khói bụi vượt ngưỡng kỹ thuật quốc gia.
  • Thành lập Hiệp hội sản xuất vật liệu xây dựng huyện Phú Lương: Ủy ban nhân dân huyện bảo trợ thành lập Hiệp hội nhằm tập hợp tối thiểu 80% các chủ cơ sở và doanh nghiệp sản xuất gạch trên địa bàn trước quý IV năm 2023. Hiệp hội đóng vai trò cầu nối tiếp nhận chính sách hỗ trợ khuyến công, chuyển giao công nghệ lò tuynel cải tiến và thống nhất giá cả thị trường, hạn chế cạnh tranh không lành mạnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Cán bộ quản lý nhà nước tại Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã: Là cẩm nang hữu ích cho Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế và Hạ tầng tại 16 xã, thị trấn của huyện Phú Lương và các huyện lân cận để nắm bắt quy trình kiểm soát ô nhiễm, cấp phép mỏ sét và lập phương án di dời lò gạch thủ công.
  • Chủ các cơ sở và doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: Giúp các chủ doanh nghiệp sản xuất gạch hiểu rõ quy định pháp luật hiện hành, các tiêu chuẩn xả thải môi trường và lộ trình xóa bỏ lò nung thủ công để chủ động chuẩn bị nguồn vốn khoảng 800 triệu đồng cải tiến công nghệ hoặc chuyển sang sản xuất gạch không nung.
  • Cơ quan hoạch định chính sách cấp tỉnh (Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên): Sử dụng số liệu khảo sát thực tế từ 15 cơ sở sản xuất gạch tại Phú Lương để xây dựng các đề án khuyến công, định mức hỗ trợ tài chính phù hợp cho toàn bộ 9 huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh.
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế: Cung cấp khung phương pháp luận nghiên cứu thực chứng kết hợp điều tra toàn bộ theo thang đo Likert và chuỗi số liệu thứ cấp phục vụ việc thực hiện các đề tài quản lý công nghiệp địa phương.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao tiến độ chuyển đổi công nghệ gạch nung tại huyện Phú Lương diễn ra chậm? Chi phí đầu tư vỏ lò nung tiên tiến có ống khói xử lý khí thải lên tới khoảng 800 triệu đồng cho mỗi lò, vượt quá khả năng tài chính của các hộ gia đình. Đồng thời, nguồn thu nhập của 63.683 lao động nông thôn (chiếm 84,05% lực lượng lao động) phụ thuộc đáng kể vào các cơ sở sản xuất này, khiến chính quyền địa phương phải thận trọng từng bước để tránh gây xáo trộn an sinh xã hội.

  • Luận văn sử dụng phương pháp khảo sát nào để thu thập dữ liệu sơ cấp? Tác giả áp dụng phương pháp điều tra toàn bộ bằng phiếu hỏi đối với 15/15 chủ cơ sở sản xuất gạch xây dựng trên địa bàn huyện Phú Lương vào tháng 6 năm 2020. Dữ liệu thu về đạt tỷ lệ 100%, được phân tích theo thang đo Likert 5 mức độ và xử lý bằng phần mềm Excel nhằm đánh giá khách quan nhận thức về các công cụ quản lý nhà nước.

  • Hoạt động sản xuất gạch tác động như thế nào đến môi trường địa phương? Kết quả quan trắc tại Nhà máy gạch Phấn Mễ chỉ ra nồng độ khói bụi và tiếng ồn cơ học vào các chu kỳ nung đốt tiệm cận ngưỡng giới hạn theo QCVN 26:2016/BYT. Ngoài ra, việc khai thác sét tràn lan đã làm sụt giảm 638,9 ha diện tích đất chưa sử dụng trong giai đoạn 2018-2020, gây nguy cơ xói mòn và suy thoái nguồn nước ngầm.

  • Huyện Phú Lương có thể áp dụng bài học kinh nghiệm nào từ Bắc Giang và Phổ Yên? Huyện cần học tập tỉnh Bắc Giang trong việc quy hoạch tập trung 68 khu vực mỏ sét có giấy phép và kinh nghiệm của huyện Phổ Yên trong việc phát triển gạch không nung. Việc bắt buộc sử dụng 100% gạch không nung trong các công trình đầu tư công sẽ tạo động lực lớn giúp mở rộng thị trường tiêu thụ cho các cơ sở chuyển đổi công nghệ.

  • Những công cụ quản lý nào cần được ưu tiên trong giai đoạn tới? Cần ưu tiên kết hợp công cụ quy hoạch và công cụ kinh tế. Trọng tâm là quy hoạch 2 cụm sản xuất tập trung, hỗ trợ 20% đến 30% lãi suất vay chuyển đổi công nghệ gạch không nung, kết hợp thanh tra tối thiểu 4 đợt/năm để vừa duy trì 16,8% tỷ trọng công nghiệp, vừa bảo đảm chỉ tiêu môi trường.

Kết luận

  • Đề tài đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất gạch xây dựng tại địa bàn cấp huyện miền núi.
  • Phân tích chi tiết thực trạng 15 cơ sở sản xuất gạch trên địa bàn huyện Phú Lương giai đoạn 2018-2020, làm rõ đóng góp 16,8% của khu vực công nghiệp - xây dựng đối với kinh tế địa phương.
  • Xác định rõ các điểm nghẽn chính sách, đặc biệt là rào cản chi phí 800 triệu đồng/lò nung chuẩn hóa và sự sụt giảm 638,9 ha đất chưa sử dụng do áp lực khai thác khoáng sản sét tự phát.
  • Đúc rút bài học kinh nghiệm sâu sắc từ thực tiễn của huyện Phổ Yên và tỉnh Bắc Giang về quản lý mỏ nguyên liệu và phát triển vật liệu xây dựng không nung.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về quy hoạch vùng nguyên liệu, hỗ trợ tài chính, thanh tra liên ngành và mô hình hiệp hội doanh nghiệp với lộ trình thực thi cụ thể từ năm 2021 đến năm 2025.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh dữ liệu thực chứng đầu tiên về quản lý sản xuất gạch tại huyện Phú Lương, làm cơ sở khoa học để chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách chuyển đổi vật liệu xây dựng. Trong giai đoạn 2022-2024, các cấp chính quyền huyện Phú Lương cần khẩn trương kích hoạt cơ chế hỗ trợ tài chính khuyến công và kiểm soát nghiêm ngặt quy chuẩn môi trường để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế xanh và bền vững.