Tổng quan nghiên cứu

Khu vực miền núi Việt Nam chiếm hai phần ba diện tích cả nước với 53 dân tộc thiểu số gồm gần 13,4 triệu người, tương đương trên 14% dân số quốc gia. Báo cáo của Ủy ban Dân tộc ghi nhận tỷ lệ hộ nghèo tại vùng này chiếm 23,1% và cận nghèo chiếm 13,6%. Tọa lạc tại tỉnh Thái Nguyên với diện tích tự nhiên 36.934,23 ha trải rộng trên 15 xã, thị trấn, huyện Phú Lương có lực lượng lao động là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ trọng áp đảo 70,13% dân số toàn huyện. Lực lượng này là nhân tố then chốt thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương nhưng đang chịu nhiều rào cản về việc làm và thu nhập. Toàn huyện có 4.006 hộ nghèo, chiếm 13,54% dân số, trong đó hộ nghèo dân tộc thiểu số lên tới 2.935 hộ, chiếm 73,26% tổng số hộ nghèo, cùng 3.009 hộ cận nghèo chiếm 10,17%.

Xuất phát từ thực tế đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Trần Thị Tý tại Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh, đã thực hiện đề tài Quản lý lao động dân tộc thiểu số tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Đề tài đánh giá toàn diện công tác quản lý lao động giai đoạn 2018 - 2020 trên địa bàn huyện, làm rõ nguyên nhân của các tồn tại trong khâu tuyển dụng, đào tạo và sử dụng lao động. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, góp phần duy trì tốc độ giảm nghèo bình quân 3,08% mỗi năm và nâng mức thu nhập bình quân đầu người từ 8,2 triệu đồng năm 2019 lên các mức cao hơn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết vốn nhân lực và Lý thuyết quản trị nguồn nhân lực khu vực công nhằm tiếp cận toàn diện công tác quản trị lao động đặc thù. Đề tài kế thừa mô hình quy trình tuyển dụng và bố trí nhân sự của Richard Jones và các cộng sự công bố năm 2009, bao gồm chuỗi mắt xích từ xác định nhu cầu, thu hút, tuyển chọn đến kiểm tra, đánh giá. Mô hình này được gắn kết với 4 chức năng quản trị lao động then chốt: lập kế hoạch nguồn nhân lực, tuyển dụng, tổ chức sử dụng - đào tạo phát triển, và chính sách đãi ngộ vật chất lẫn tinh thần.

Hệ thống khái niệm được chuẩn hóa theo cơ sở pháp lý và học thuật chặt chẽ. Khái niệm dân tộc thiểu số được xác định căn cứ Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ, chỉ các dân tộc có số dân ít hơn dân tộc đa số, trong đó dân tộc Kinh chiếm 85,7% dân số cả nước. Khái niệm quản lý lao động của nhà nước được tiếp cận theo Công ước số 150 của Tổ chức Lao động Quốc tế về chính sách lao động quốc gia. Đồng thời, nguồn lao động dân tộc thiểu số được nhận diện qua ba đặc tính căn bản: chịu tác động lớn của tự nhiên với tính thời vụ cao, độ tuổi lao động kéo dài nhưng chủ yếu là lao động giản đơn, và thiếu định hướng nghề nghiệp dài hạn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các văn kiện pháp lý, Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Phú Lương lần thứ XXIV nhiệm kỳ 2020 - 2025, cùng các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ giai đoạn 2018 - 2020.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua hai bộ phiếu khảo sát thực tế. Đối với người lao động dân tộc thiểu số, bảng hỏi gồm 7 nội dung lớn phân tách thành 26 biến chỉ tiêu chi tiết. Căn cứ nguyên tắc xác định cỡ mẫu định lượng tối thiểu bằng 10 lần số biến quan sát, quy mô mẫu bắt buộc phải đạt từ 260 đối tượng trở lên. Tác giả đã phát 350 phiếu và thu về 300 mẫu hợp lệ, đạt tỷ lệ phản hồi 85,7%. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được triển khai tại 3 xã khu vực III có điều kiện đặc biệt khó khăn là Yên Trạch, Phú Đô và Yên Lạc. Đối với nhóm cán bộ quản lý, tác giả điều tra toàn bộ mục tiêu với cỡ mẫu 50 người, gồm lãnh đạo Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc huyện cùng cán bộ chuyên trách tại 15 xã, thị trấn. Dữ liệu được đo lường qua thang đo Likert 5 mức độ từ 1,0 đến 5,0 điểm và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel 2016. Phương pháp thống kê mô tả, phân tổ kết cấu và so sánh tỷ lệ cơ cấu được lựa chọn vì mang lại độ tin cậy cao, phản ánh trực quan xu hướng biến động nguồn nhân lực địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lao động dân tộc thiểu số chiếm 70,13% lực lượng lao động toàn huyện Phú Lương nhưng tỷ lệ đói nghèo lại tập trung chủ yếu vào nhóm đối tượng này. Trong tổng số 4.006 hộ nghèo toàn huyện chiếm 13,54% dân số, có tới 2.935 hộ nghèo là người dân tộc thiểu số, chiếm tỷ trọng 73,26%. Tỷ lệ hộ nghèo tại các xã vùng III rất cao, điển hình như xã Hợp Thành chiếm 59,4%, xã Yên Lạc chiếm 58,33%, xã Yên Ninh chiếm 52,39% và xã Yên Trạch chiếm 50,06%.

Thứ hai, các chỉ tiêu kinh tế có bước tiến triển nhưng thu nhập chưa thật sự bền vững. GDP bình quân đầu người toàn huyện tăng từ 8,2 triệu đồng năm 2019 lên 12,3 triệu đồng năm 2020, tương đương mức tăng thêm 4,1 triệu đồng mỗi người. Tỷ lệ hộ nghèo chung giảm từ 23,55% năm 2019 xuống 14,31% năm 2020, đạt tốc độ giảm bình quân 3,08% mỗi năm. Dù vậy, thu nhập của đa số lao động dân tộc thiểu số vẫn ở mức thấp, nhiều hộ nằm sát chuẩn nghèo 400.000 đồng một người một tháng.

Thứ ba, cơ cấu việc làm phân bổ lệch về nông - lâm nghiệp tự cấp tự túc. Huyện có 13.100 ha đất nông nghiệp và hơn 17.500 ha đất lâm nghiệp trên tổng diện tích 36.934,23 ha, thu hút trên 70% lao động dân tộc thiểu số làm việc thủ công, trong khi tỷ lệ tham gia vào công nghiệp chế biến và dịch vụ rất khiêm tốn.

Thứ tư, công tác đào tạo nghề chưa đáp ứng được đòi hỏi thực tiễn. Khảo sát 300 lao động cho thấy tỷ lệ người có chứng chỉ nghề còn dưới 15%, các lớp học ngắn ngày chưa gắn liền với nhu cầu tuyển dụng thực tế của doanh nghiệp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của thực trạng trên là địa hình chia cắt phức tạp với đồi núi chiếm 75% diện tích tự nhiên, hệ thống đường liên thôn 448 km còn nhiều đoạn đường đất gây khó khăn cho việc đi lại vào mùa mưa lũ từ tháng 4 đến tháng 10. Trình độ dân trí hạn chế cùng tập quán canh tác nông nghiệp nương rẫy khiến người dân e ngại tiếp cận khoa học kỹ thuật. Bên cạnh đó, bộ máy quản lý tại các xã còn thiếu cơ sở dữ liệu số hóa và thiếu kinh phí đãi ngộ thỏa đáng cho cán bộ chuyên trách.

Khi đối chiếu với các địa phương miền núi khác, Phú Lương có thể tiếp thu nhiều bài học giá trị. Điển hình như huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai giai đoạn 2018 - 2020 đã đào tạo nghề cho gần 7.200 lao động dân tộc thiểu số chiếm 69,9% tổng số lao động đào tạo, đồng thời đưa 55 lao động xuất khẩu làm việc tại Nhật Bản, Hàn Quốc đạt thu nhập từ 10 đến 30 triệu đồng một tháng và đưa 320 lao động làm việc qua biên giới thu nhập 7 đến 10,5 triệu đồng một tháng. Tương tự, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang đã mở 40 lớp dạy nghề cầm tay chỉ việc cho 1.130 lao động dân tộc thiểu số với kinh phí 2.234 triệu đồng, đưa tỷ lệ lao động tốt nghiệp trung học cơ sở lên 30,45%.

Dữ liệu nghiên cứu của luận văn có thể được trực quan hóa sinh động qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu lao động dân tộc thiểu số theo trình độ chuyên môn, song song với bảng thống kê đối chiếu tỷ lệ hộ nghèo và trình độ học vấn giữa 15 xã, thị trấn. Biểu đồ cột so sánh tương quan thu nhập và việc làm sẽ hỗ trợ các cấp quản lý nhận diện nhanh chóng các điểm nghẽn để can thiệp kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, số hóa và hiện đại hóa công tác lập kế hoạch nhân lực. Ủy ban nhân dân huyện Phú Lương chỉ đạo Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với 15 xã, thị trấn xây dựng phần mềm quản lý việc làm đồng bộ trong giai đoạn 2021 - 2023, phấn đấu kiểm soát tỷ lệ thất nghiệp dưới 2,2% và giữ vững mức giảm nghèo từ 3,0% đến 3,5% mỗi năm.

Thứ hai, đổi mới nội dung đào tạo nghề theo phương châm cầm tay chỉ việc gắn với cây trồng chủ lực. Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện liên kết với các hợp tác xã chế biến chè tại các xã Tức Tranh, Vô Tranh, Phú Đô mở từ 25 đến 30 lớp thực hành mỗi năm cho khoảng 1.200 đến 1.500 lao động. Mục tiêu đến năm 2025 nâng tỷ lệ lao động dân tộc thiểu số qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ lên trên 55%.

Thứ ba, mở rộng mạng lưới giới thiệu việc làm và xúc tiến xuất khẩu lao động. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện phối hợp cùng Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Thái Nguyên tổ chức 4 ngày hội việc làm lưu động mỗi năm tại các xã Yên Lạc, Yên Ninh, Yên Trạch. Đặt mục tiêu giai đoạn 2021 - 2025 đưa 80 đến 100 lao động dân tộc thiểu số mỗi năm đi làm việc ở nước ngoài tại Nhật Bản, Đài Loan, hướng tới mức thu nhập từ 15 đến 25 triệu đồng một người một tháng.

Thứ tư, gia tăng quy mô tín dụng chính sách và chế độ đãi ngộ cán bộ. Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Phú Lương tập trung nguồn vốn Quỹ quốc gia về việc làm với quy mô trên 25 tỷ đồng mỗi năm, hỗ trợ hơn 600 lượt hộ dân tộc thiểu số vay vốn lập nghiệp. Đồng thời, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên cần xem xét hỗ trợ phụ cấp trách nhiệm từ 0,2 đến 0,3 lần mức lương cơ sở cho cán bộ làm công tác lao động - dân tộc tại các xã khu vực III.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương. Lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Phú Lương, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên có thể khai thác bộ dữ liệu khảo sát từ 300 lao động và 50 cán bộ quản lý để xây dựng Đề án phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số giai đoạn 2021 - 2030, phục vụ việc phân bổ ngân sách tại 15 xã, thị trấn.

Thứ hai, giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp khảo sát định lượng tại vùng đồng bào miền núi, kết hợp xử lý 26 biến chỉ tiêu trên phần mềm Excel 2016, hỗ trợ xây dựng khung lý thuyết và thang đo khảo sát cho các công trình nghiên cứu tương tự.

Thứ ba, các doanh nghiệp, hợp tác xã và đơn vị tuyển dụng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Dữ liệu luận văn giúp giới chủ hiểu rõ đặc điểm tâm lý và năng lực của lực lượng lao động chiếm 70,13% dân số huyện Phú Lương, từ đó xây dựng chính sách tiền lương, thưởng và định mức công việc thích hợp nhằm giảm thiểu biến động nhân sự.

Thứ tư, các ban quản lý dự án giảm nghèo và tổ chức phi chính phủ. Báo cáo phân tích tỷ trọng 73,26% hộ nghèo là người dân tộc thiểu số cung cấp luận cứ thực tiễn để định hướng các chương trình trao quyền sinh kế, tài trợ tín dụng vi mô tại các xã đặc biệt khó khăn như Yên Trạch, Phú Đô và Yên Lạc.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng hộ nghèo là người dân tộc thiểu số tại huyện Phú Lương giai đoạn nghiên cứu ra sao? Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm từ 23,55% năm 2019 xuống 14,31% năm 2020, hộ nghèo dân tộc thiểu số vẫn chiếm tới 73,26% tổng số 4.006 hộ nghèo của huyện. Tỷ lệ nghèo cục bộ tại các xã vùng sâu còn ở mức báo động như Hợp Thành chiếm 59,4% và Yên Lạc chiếm 58,33%.

Cỡ mẫu khảo sát sơ cấp của đề tài được xác lập dựa trên tiêu chí nào? Quy mô mẫu được tính toán dựa trên quy tắc cỡ mẫu định lượng tối thiểu bằng 10 lần số biến quan sát. Với 26 biến câu hỏi chi tiết, cỡ mẫu yêu cầu tối thiểu là 260. Tác giả đã phát 350 phiếu điều tra tại 3 xã khu vực III gồm Yên Trạch, Phú Đô, Yên Lạc và thu về 300 mẫu hợp lệ, đồng thời khảo sát thêm 50 cán bộ quản lý.

Thu nhập bình quân của người dân Phú Lương có chuyển biến như thế nào qua các năm? Theo số liệu giai đoạn 2018 - 2020, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành tại huyện Phú Lương đã tăng từ 8,2 triệu đồng năm 2019 lên 12,3 triệu đồng năm 2020, tương ứng mức tăng thêm 4,1 triệu đồng mỗi người một năm, phản ánh nỗ lực phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa của địa phương.

Huyện Phú Lương có thể học hỏi mô hình giải quyết việc làm nào từ các địa phương lân cận? Phú Lương có thể tiếp thu mô hình xuất khẩu lao động của huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai với 55 lao động dân tộc thiểu số đi làm việc ở nước ngoài đạt thu nhập 10 đến 30 triệu đồng một tháng, hoặc kinh nghiệm của huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang mở 40 lớp dạy nghề cầm tay chỉ việc cho 1.130 lao động.

Yếu tố tự nhiên nào gây trở ngại lớn nhất cho công tác quản lý lao động tại huyện? Địa hình đồi núi chiếm tới 75% diện tích tự nhiên, độ dốc lớn cùng 448 km đường liên thôn thường xuyên sạt lở vào mùa mưa lũ từ tháng 4 đến tháng 10. Địa hình cách trở làm tăng chi phí đi lại, gây khó khăn cho việc chiêu sinh đào tạo nghề và hạn chế khả năng tiếp cận thị trường việc làm ngoài huyện.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Tý đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu nghiên cứu với những đóng góp học thuật và thực tiễn nổi bật:

  • Khẳng định vị trí nòng cốt: Lao động dân tộc thiểu số chiếm 70,13% lực lượng lao động huyện Phú Lương, đóng vai trò nền tảng cho phát triển kinh tế và trật tự an ninh cơ sở.
  • Nhận diện chính xác điểm nghẽn nghèo đa chiều: Hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm 73,26% tổng số hộ nghèo, tỷ lệ nghèo cục bộ tại nhiều xã vùng sâu vẫn vượt ngưỡng 50%.
  • Cung cấp luận cứ thực nghiệm chuẩn xác: Điều tra thành công 300 lao động và 50 cán bộ quản lý tại các xã khu vực III, làm sáng tỏ thực trạng đào tạo và bố trí việc làm.
  • Hoạch định 4 nhóm giải pháp khả thi: Đổi mới đào tạo cầm tay chỉ việc, đẩy mạnh xuất khẩu lao động và giải ngân trên 25 tỷ đồng vốn vay tín dụng chính sách hàng năm.
  • Xác lập lộ trình giai đoạn 2021 - 2025: Duy trì mức giảm nghèo trên 3,08% mỗi năm, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên trên 55% và nâng thu nhập vượt mốc 12,3 triệu đồng.

Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp cần bắt tay triển khai đồng bộ lộ trình giải pháp giai đoạn 2021 - 2025 nhằm giải phóng tiềm năng nhân lực và xây dựng nông thôn mới Phú Lương giàu đẹp.