Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, sự gia tăng dân số cùng tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng đã tạo ra áp lực lớn đối với môi trường sống. Tại khu vực nông thôn, bên cạnh những thành tựu về kinh tế, các vấn đề phát sinh từ rác thải sinh hoạt, nước thải không qua xử lý, ô nhiễm từ hoạt động chăn nuôi và tập quán canh tác nông nghiệp đang trở nên bức xúc, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng và cảnh quan sinh thái.

Xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên là địa bàn bán sơn địa tiếp giáp với thành phố Thái Nguyên, có tuyến Quốc lộ 3 chạy qua và là đầu mối giao thông quan trọng. Địa phương này có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội tương đối nhanh, có sự đan xen giữa sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ và hoạt động khai thác khoáng sản (mỏ than Khánh Hòa). Sự phát triển này làm phát sinh nhiều vấn đề môi trường phức tạp nhưng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mạng lưới dịch vụ thu gom và ý thức vệ sinh môi trường của một bộ phận người dân vẫn còn hạn chế.

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

  1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Đánh giá hiện trạng môi trường tại xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (tập trung vào nước sinh hoạt, nước thải, rác thải, vệ sinh môi trường, phân bón - thuốc bảo vệ thực vật, sức khỏe cộng đồng và công tác tuyên truyền giáo dục).
  3. Đề xuất các giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề môi trường nông thôn phát sinh trên địa bàn (nước sinh hoạt, rác thải, nước thải, công trình vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi, hoạt động sử dụng hóa chất nông nghiệp).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn 19 xóm thuộc xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, tập trung khảo sát tại 3 khu vực: Khu Trung tâm, Khu Phía Bắc và Khu Phía Nam.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai thu thập số liệu và khảo sát thực địa từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nội dung dựa trên hệ thống cơ sở lý luận, các định nghĩa học thuật và khung văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam và quốc tế:

  • Khung pháp lý: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (Điều 1 về phạm vi điều chỉnh; Điều 3 khoản 2 về thành phần môi trường, khoản 3 về hoạt động BVMT, khoản 8 về ô nhiễm môi trường, khoản 9 về suy thoái môi trường và quy định tiêu chuẩn môi trường); Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn (quy định khái niệm, quy trình thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý và chôn lấp hợp vệ sinh chất thải rắn); Quyết định số 08/2005/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về tiêu chuẩn nhà tiêu hợp vệ sinh.
  • Khái niệm học thuật: Các định nghĩa về môi trường theo UNESCO; khái niệm ô nhiễm môi trường theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO); khái niệm ô nhiễm nước theo Hiến chương Châu Âu; các nghiên cứu tổng quan về ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, tiếng ồn (Hoàng Văn Hùng, 2008; Lê Văn Khoa và cộng sự, 2003; Lê Thạc Cán và cộng sự, 1995).
  • Dữ liệu tổng quan: Báo cáo của Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) về lương thực toàn cầu; số liệu của Ngân hàng Thế giới về tổn thất do ô nhiễm môi trường tại Việt Nam (ước tính 5,5% GDP mỗi năm); số liệu từ Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) về chất thải chăn nuôi (73 triệu tấn/năm) và chất thải rắn nông thôn (100 triệu tấn/năm).

Phương pháp nghiên cứu:

  1. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo thống kê, tài liệu quy hoạch, số liệu khí tượng thủy văn, điều kiện kinh tế - xã hội từ UBND xã Sơn Cẩm, các phòng ban chuyên môn huyện Phú Lương, thư viện và tài liệu chuyên ngành.
  2. Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp: Sử dụng phiếu điều tra xã hội học (Mẫu phiếu 01) phỏng vấn trực tiếp 90 hộ gia đình trên địa bàn xã Sơn Cẩm. Mẫu khảo sát được phân bổ đều cho 3 khu vực: Khu Trung tâm (30 phiếu), Khu Phía Bắc (30 phiếu) và Khu Phía Nam (30 phiếu). Cơ cấu đối tượng gồm 48 nam (53,3%) và 42 nữ (46,7%); trong đó có 39 người làm ruộng (43,4%), 19 cán bộ (21,1%), 9 người nghỉ hưu (10,0%) và 23 người làm các nghề khác (25,5%).
  3. Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát, ghi nhận thực tế tình trạng tiêu thoát nước, các điểm đổ rác tự phát, cấu trúc chuồng trại, hệ thống nhà tiêu và tập quán sử dụng phân bón tại các khu dân cư.
  4. Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Tiếp thu hướng dẫn chuyên môn của cán bộ giảng dạy (TS. Nguyễn Đức Thạnh) và trao đổi với cán bộ phụ trách địa chính - môi trường tại UBND xã Sơn Cẩm.
  5. Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Tổng hợp, phân loại, tính toán tỷ lệ phần trăm và biểu diễn dữ liệu bằng các bảng thống kê và biểu đồ để phân tích hiện trạng.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Đặt vấn đề

Phần này trình bày tính cấp thiết của công tác bảo vệ môi trường nông thôn trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Phú Lương nói riêng. Tác giả xác lập mục đích nghiên cứu, 5 yêu cầu cụ thể đối với số liệu điều tra và giải pháp, đồng thời làm rõ ý nghĩa học thuật trong việc rèn luyện phương pháp nghiên cứu thực tiễn cũng như ý nghĩa thực tiễn đối với công tác quản lý môi trường tại xã Sơn Cẩm.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Phần tổng quan tổng hợp các vấn đề môi trường trên phạm vi toàn cầu, khu vực và trong nước:

  • Môi trường thế giới: Gia tăng dân số nhanh, áp lực an ninh lương thực, suy thoái 70.000 km² đất canh tác mỗi năm, tốc độ đô thị hóa 3 - 5% tại Châu Á - Thái Bình Dương, sự hình thành các siêu đô thị trên 10 triệu dân, mất rừng nhiệt đới (khoảng 15 triệu ha/năm), phát sinh chất thải rắn (0,4 - 1,5 kg/người/ngày) và tình trạng gia tăng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
  • Môi trường nông thôn Việt Nam: Tác động tiêu cực của chất thải chăn nuôi (73 triệu tấn/năm, chỉ 30 - 60% được xử lý); ô nhiễm môi trường nước mặt và nước ngầm; ô nhiễm đất do tác nhân sinh học bắt nguồn từ thói quen dùng 7 - 12 tấn phân bắc tươi/ha trong trồng trọt, dẫn đến mật độ vi sinh vật gây bệnh cao (360 E. coli/lít nước mương, $2 \times 10^5$ E. coli/100g đất) và tỷ lệ 60% người tiếp xúc bị thiếu máu, bệnh ngoài da.
  • Hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên: Phân tích cơ cấu quỹ đất 356.282 ha (đất núi chiếm 48,4%, đất đồi chiếm 31,4%, đất ruộng chiếm 12,4%); đặc điểm tài nguyên nước thuộc hệ thống sông Cầu, sông Đu, sông Nghinh Tường, sông Công, kênh Sông Máng (52 km) và hồ Núi Cốc (diện tích 25 km², dung tích 160 - 200 triệu m³); nhận diện các vấn đề môi trường cấp bách tại đô thị, khu công nghiệp, khai thác khoáng sản và khu vực nông thôn.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung phần này mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu tại xã Sơn Cẩm, tiến độ thực hiện từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2015. Tác giả quy định cụ thể 3 nội dung nghiên cứu chính và chi tiết hóa quy trình thực hiện 5 phương pháp: thu thập số liệu thứ cấp, điều tra bảng hỏi 90 hộ gia đình phân bố tại 3 khu vực địa lý, khảo sát hiện trường, tham vấn chuyên gia và phương pháp xử lý số liệu thống kê.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nội dung phân tích thực chứng được tác giả trình bày qua các hợp phần:

1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Sơn Cẩm:

  • Vị trí và địa hình: Xã có 19 xóm, địa hình bán sơn địa cao dần về phía Tây, thấp dần về phía Đông. Phía Tây chủ yếu là đồi núi trồng rừng; phía Đông bằng phẳng thuận lợi cho trồng trọt; phía Bắc có sông Cầu chảy qua; phía Nam có tài nguyên than đá.
  • Khí hậu và thủy văn: Nhiệt độ trung bình năm 23,3°C; số giờ nắng trung bình 1.300 giờ/năm (thấp nhất tháng 2 đạt 41 giờ, cao nhất tháng 6 đạt 185 giờ); lượng mưa trung bình năm khoảng 2.020 mm (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm 85%, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chiếm 15%); lượng bốc hơi trung bình năm 985,5 mm; độ ẩm không khí trung bình 82%, chỉ số ẩm ướt K = 2,05 (riêng tháng 12 và tháng 1 có K < 0,3 gây hạn hán). Thủy văn chính gồm sông Cầu và sông Đu.
  • Tài nguyên đất: Tổng diện tích các loại đất chính gồm: đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp) chiếm diện tích lớn nhất với 597,94 ha (35,55%); đất vàng nhạt trên đá cát (Fq) có 398,60 ha (27,65%); đất đỏ vàng trên phiến thạch sét (Fs) có 248,70 ha (14,78%); đất dốc tụ (D) có 199,30 ha (11,85%); đất phù sa không được bồi (P) có 150,00 ha (8,92%). Đất bằng có độ dốc < 8° phục vụ cây hàng năm là 947,24 ha (56,32%); đất cây lâu năm và lâm nghiệp là 650,00 ha (38,64%). Diện tích rừng trồng đạt 270,21 ha. Khoáng sản có mỏ than Khánh Hòa tại xóm Cao Sơn 3, 4, 5.
  • Đặc điểm kinh tế - xã hội: Năm 2014, dân số toàn xã là 12.831 người (8 dân tộc, người Kinh chiếm 60%, dân tộc thiểu số chiếm 40%; dân số nông nghiệp chiếm 87,9%, phi nông nghiệp chiếm 12,1%). Cơ cấu kinh tế có tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ đạt 58,8% (thu nhập 18 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 2.552 lao động, chiếm 25% tổng lao động). Thu nhập bình quân đầu người năm 2014 đạt 14,2 triệu đồng/người/năm. Tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương đạt 60%.

2. Đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn qua khảo sát 90 hộ gia đình:

Hạng mục khảo sát Phân loại chi tiết Số hộ (n = 90) Tỷ lệ (%)
Nguồn nước sinh hoạt Nước giếng 34 37,8
Nước máy 26 28,9
Bể chứa nước mưa 21 23,3
Nước nguồn (khe suối) 9 10,0
Loại cống thoát nước thải Cống thải lộ thiên 48 51,1
Không có cống thải 22 24,5
Cống thải có nắp đậy 21 23,3
Loại khác 1 1,1
Hình thức đổ rác thải Đổ rác tùy nơi (ven đường, bờ sông, vườn) 40 44,5
Đổ ở bãi rác chung 30 33,3
Thu gom theo hợp đồng dịch vụ 11 12,2
Hố rác riêng 9 10,0
Kiểu nhà vệ sinh Nhà tiêu hai ngăn 30 33,3
Nhà tiêu đất 26 29,0
Nhà vệ sinh tự hoại 24 26,6
Loại khác (cầu tõm, lên rừng) 9 10,0
Không có nhà vệ sinh 1 1,1
Cấu trúc chuồng trại chăn nuôi Có chuồng trại nuôi nhốt 51 56,7
Không có chuồng trại nuôi nhốt 39 43,3
Vị trí chuồng trại (n = 90):
- Chuồng trại liền kề khu nhà ở 49 54,4
- Chuồng trại tách rời khu nhà ở 41 45,6
Nguồn tiếp nhận nước thải (nhà tiêu, chuồng trại) Ngấm xuống đất 35 38,9
Bể tự hoại 30 33,3
Xả ra sông suối 10 11,1
Xả nơi khác 10 11,1
Cống thải chung 5 5,6
Loại phân bón sử dụng trong canh tác Phân hóa học 44 48,9
Phân tươi 35 38,9
Các loại phân ủ 5 5,6
Phân vi sinh 3 3,3
Loại khác 2 2,2
Không sử dụng 1 1,1

Phân tích kết quả:

  • Nước sinh hoạt: Tỷ lệ dùng nước giếng (37,8%) và nước nguồn khe suối (10,0%) chưa qua hệ thống lọc chiếm tỷ trọng lớn, tiềm ẩn nguy cơ nhiễm khuẩn do nước thải ngấm trực tiếp vào đất.
  • Nước thải và rác thải: Hệ thống tiêu thoát nước còn yếu kém khi có đến 51,1% hộ dùng cống lộ thiên và 24,5% hộ không có cống thải. Rác thải sinh hoạt phát sinh ước tính khoảng 5 kg/ngày/hộ nhưng có tới 44,5% hộ vứt rác tùy tiện; dịch vụ thu gom tập trung chỉ đáp ứng được 12,2% số hộ.
  • Vệ sinh và chăn nuôi: Chỉ có 26,6% hộ có nhà tiêu tự hoại hợp vệ sinh; 33,3% dùng nhà tiêu hai ngăn nhưng phần lớn không bảo đảm quy chuẩn vệ sinh; 54,4% chuồng trại nằm liền kề nhà ở; 38,9% lượng nước thải vệ sinh và chăn nuôi ngấm thẳng xuống đất.
  • Nông nghiệp: Thói quen bón phân tươi vẫn tồn tại ở 38,9% số hộ, làm tăng nguy cơ phát tán mầm bệnh và gây ô nhiễm đất, nguồn nước mặt.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn diện các phát hiện về hiện trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn xã Sơn Cẩm, đồng thời đưa ra các kiến nghị đối với chính quyền cấp xã, huyện nhằm hoàn thiện quy hoạch hạ tầng bảo vệ môi trường nông thôn.


Kết quả và đóng góp

  • Kết quả định lượng cụ thể: Khóa luận đã phản ánh hiện trạng môi trường nông thôn xã Sơn Cẩm qua các chỉ số điều tra: 37,8% hộ dùng nước giếng; 51,1% hộ xả nước thải qua cống lộ thiên; 44,5% hộ đổ rác tùy tiện; lượng rác phát sinh ước tính 5 kg/hộ/ngày; chỉ 26,6% nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh tự hoại; 54,4% chuồng trại chăn nuôi xây sát nhà ở; 38,9% nguồn nước thải vệ sinh ngấm trực tiếp xuống đất; 38,9% hộ dân vẫn duy trì thói quen bón phân tươi trong canh tác nông nghiệp.
  • Giải pháp đề xuất của tác giả:
    • Giải pháp quản lý và quy hoạch: Xây dựng quy hoạch mạng lưới thu gom rác thải đồng bộ trên toàn bộ 19 xóm; đầu tư kiên cố hóa hệ thống cống rãnh tiêu thoát nước thải có nắp đậy tại các khu dân cư tập trung.
    • Giải pháp kỹ thuật sinh thái: Vận động nhân dân chuyển đổi mô hình chuồng trại tách rời nhà ở; áp dụng công nghệ hầm Biogas xử lý chất thải chăn nuôi; hướng dẫn kỹ thuật ủ phân chuồng hoai mục thay thế việc bón phân tươi trực tiếp; xây dựng nhà tiêu hợp chuẩn theo quy định Bộ Y tế.
    • Giải pháp tuyên truyền: Đẩy mạnh giáo dục truyền thông về vệ sinh môi trường, nâng cao ý thức tự phân loại rác thải tại hộ gia đình và giữ gìn nguồn nước ngầm.
  • Đóng góp của đề tài: Khóa luận cung cấp bộ dữ liệu điều tra thực địa chi tiết về hạ tầng vệ sinh và tập quán sinh hoạt của người dân xã Sơn Cẩm năm 2015, làm cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ công tác quản lý tài nguyên - môi trường tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi (quy mô 90 hộ) và quan sát hiện trường; chưa thực hiện lấy mẫu xét nghiệm và phân tích định lượng các chỉ tiêu hóa lý, vi sinh (như Coliform, $E. coli$, BOD$_5$, COD, kim loại nặng) của các nguồn nước ngầm, nước mặt sông Đu, sông Cầu và môi trường đất trong phòng thí nghiệm; thời gian nghiên cứu thực địa giới hạn trong 4 tháng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô điều tra trên toàn bộ 19 xóm của xã Sơn Cẩm; kết hợp quan trắc định lượng các thông số chất lượng môi trường nước, đất, không khí theo các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN); nghiên cứu chuyên sâu về tác động môi trường từ hoạt động khai thác mỏ than Khánh Hòa đến đời sống dân cư xung quanh.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Quản lý Đất đai, Phát triển Nông thôn; cán bộ phụ trách công tác địa chính - nông nghiệp - môi trường tại các xã, thị trấn khu vực trung du miền núi phía Bắc.
  • Phần nội dung đáng tham khảo: Phương pháp thiết kế bảng hỏi và phân bổ mẫu điều tra nông thôn; cấu trúc bảng số liệu tổng hợp hiện trạng nước sinh hoạt, rác thải, cống rãnh, công trình vệ sinh và thực hành phân bón cấp cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu nguồn nước sinh hoạt chính của người dân xã Sơn Cẩm năm 2015 qua điều tra như thế nào?
Theo kết quả điều tra 90 hộ dân, nguồn nước sinh hoạt của người dân phân bổ gồm: nước giếng chiếm tỷ lệ cao nhất với 37,8% (34 hộ); nước máy chiếm 28,9% (26 hộ); nước mưa dự trữ trong bể chiếm 23,3% (21 hộ); nước lấy từ đầu nguồn khe suối chiếm 10,0% (9 hộ).

2. Thực trạng thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại địa bàn xã Sơn Cẩm có những đặc điểm gì nổi bật?
Lượng rác thải sinh hoạt phát sinh ước tính khoảng 5 kg/hộ/ngày. Tỷ lệ hộ đổ rác tùy tiện ra ven đường, bờ sông, bụi tre, vườn chiếm tới 44,5% (40 hộ); đổ tại bãi rác chung định kỳ chiếm 33,3% (30 hộ); rác được thu gom theo hợp đồng dịch vụ chỉ đạt 12,2% (11 hộ); số hộ tự đào hố rác riêng chiếm 10,0% (9 hộ). Người dân chưa có thói quen phân loại rác thải tại nguồn.

3. Tỷ lệ công trình vệ sinh và chuồng trại chăn nuôi đạt chuẩn tại xã Sơn Cẩm được ghi nhận ở mức nào?
Xét theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế (Quyết định số 08/2005/QĐ-BYT), chỉ có 26,6% hộ có nhà tiêu tự hoại hợp vệ sinh; 33,3% dùng nhà tiêu hai ngăn (phần lớn chưa đạt chuẩn); 29,0% dùng nhà tiêu đất; 10,0% dùng loại khác và 1,1% không có nhà vệ sinh. Đối với chăn nuôi, 56,7% hộ có chuồng nuôi nhốt nhưng có tới 54,4% chuồng trại nằm liền kề khu nhà ở.

4. Nguồn tiếp nhận nước thải sinh hoạt và vệ sinh tại địa phương chủ yếu đổ về đâu?
Do thiếu hệ thống thoát nước chung, có tới 38,9% số hộ để nước thải từ nhà vệ sinh và chuồng trại ngấm trực tiếp xuống đất; 33,3% xả vào bể tự hoại; 11,1% xả thẳng ra sông suối; 11,1% xả ra các khu vực khác và chỉ 5,6% hộ có cống thải chung để thu gom.

5. Tập quán sử dụng phân bón trong nông nghiệp tại xã Sơn Cẩm tiềm ẩn nguy cơ môi trường gì?
Khảo sát cho thấy 48,9% hộ sử dụng phân bón hóa học và có tới 38,9% số hộ vẫn giữ thói quen sử dụng phân tươi để bón trực tiếp cho cây trồng. Việc sử dụng phân tươi chưa qua ủ hoai mục kết hợp với nước thải ngấm vào đất tạo nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh cho nguồn nước ngầm và đất canh tác.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Minh Hiền đã phản ánh thực trạng môi trường nông thôn tại xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên dựa trên kết quả khảo sát 90 hộ gia đình trong năm 2015. Nghiên cứu chỉ ra những tồn tại lớn về hạ tầng thoát nước thải lộ thiên (51,1%), tỷ lệ đổ rác tùy tiện cao (44,5%), công trình vệ sinh đạt chuẩn còn thấp (26,6%) và thói quen dùng phân tươi trong sản xuất nông nghiệp (38,9%). Đây là tài liệu thực địa hữu ích, cung cấp các luận cứ thực tế giúp chính quyền địa phương xây dựng giải pháp quản lý, quy hoạch hạ tầng kỹ thuật và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường nông thôn.