Chương 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về quản lý Nhà nước đối với các Cụm công nghiệp. Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước đối với các Cụm công nghiệp tại Bắc Ninh. Chương 3: Đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC CỤM CÔNG NGHIỆP 1.
Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp 1. Một số vấn đề chung về cụm công nghiệp 1. Khái niệm về cụm công nghiệp. Trong thời gian vừa qua, các cơ sở sản xuất công nghiệp ở một số các nước đang phát triển đa phần có quy mô vừa và nhỏ, phân bố phân tán, khả năng xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường tương đối thấp do bị hạn chế về nguồn vốn.
Trong khi khi dân số ngày càng tăng, quỹ đất có hạn, thêm vào đó là chi tiêu của Chính phủ cần phải tập trung vào việc phát triển hạ tầng cơ sở cả về hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật. Để đáp ứng được yêu cầu trên việc phát triển công nghiệp cần phải khuyến khích mọi thành phần kinh tế phải tuân theo quy hoạch phát triển nhằm tiết kiệm cho đầu tư, tiết kiệm đất đai từ đó kiểm soát dễ dàng và đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường một cách hiệu quả nhất. Do vậy các quốc gia cần tạo một môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư cả về môi trường pháp lý, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để thu hút đầu tư theo quy hoạch phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội trước mắt cũng như lâu dài. Để thực hiện mục tiêu trên, các quốc gia đang phát triển đã thành lập các cụm công nghiệp đặc biệt với những ưu đãi về tài chính, thuận lợi về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội để thu hút đầu tư, xuất phát từ mục tiêu đó đã dẫn tới sự hình thành các vực sản xuất tập trung và khái niệm về cụm công nghiệp ra đời.
Trên thực tế, hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau khi định nghĩa về CCN. Theo nhà kinh tế học Marshall (1926), Weber (1978), Ohlin (1933) và Hoover (1948) cho rằng “các doanh nghiệp tập trung ở một khu vực địa lý là nhằm tận dụng lợi ích kinh tế theo quy mô do sự tập trung của lực lượng lao động, các yếu tố đầu vào, các dịch vụ chuyên biệt và để tận dụng sự lan tỏa của công nghệ”. Theo Marshall, CCN có ba lợi thế cơ bản từ sự tập chung đó là: Sự lan tỏa của thông tin, chuyên môn hóa và phân công lao động giữa các cơ sở với nhau và sự phát triển của thị trường lao động tay nghề cao [1]. Theo cách tiếp cận của M.
Porter (1990) lại xét CCN từ góc độ cạnh tranh coi sự hình thành của các CCN là một chiến lược kinh doanh nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của một khu vực trong môi trường cạnh tranh tổng thể trên thế giới. Porter định nghĩa: “Cụm công nghiệp là sự tập trung về mặt địa lý của các công ty và tổ chức có liên quan trong một lĩnh vực cụ thể nào đó và bao gồm các ngành gắn kết với nhau. Cụm công nghiệp tập trung các nhà cung cấp đầu vào, các khách hàng tiêu thụ sản phẩm, cũng như các nhà sản xuất các sản phẩm có liên quan”[1]. Tại Việt Nam có Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định: “Cụm công nghiệp là các khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ 5 phục vụ sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp , có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất, kinh doanh” [9].
Đến năm 2017 quyết định này được thay thế bằng Nghị định 68/2017/NĐ-CP có quy định lại: “Cụm công nghiệp là nơi sản xuất, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được đầu tư xây dựng nhằm thu hút, di dời các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác vào đầu tư sản xuất kinh doanh” [10]. Tùy theo đặc điểm, khả năng phát triển của mỗi địa phương mà quy mô của CCN được hình thành cũng khác nhau. Theo quy định hiện hành Cụm công nghiệp có quy mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới 10 ha. Riêng đối với cụm công nghiệp ở các huyện miền núi và cụm công nghiệp làng nghề có quy mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới 5 ha.
Ngoài ra còn có Cụm công nghiệp làng nghề. Nghị định 68/2017/NĐ-CP có quy định “Cụm công nghiệp làng nghề là cụm công nghiệp phục vụ di dời, mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở sản xuất hộ gia đình, cá nhân trong làng nghề nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, phát triển nghề, làng nghề ở địa phương”[10]. Đến hết năm 2020, cả nước có 968 CCN với tổng diện tích 30.912 ha đã được thành lập, trong đó có 450 CCN do doanh nghiệp (DN) làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng (chiếm 46,5%), các CCN còn lại do Trung tâm phát triển CCN, Ban Quản lý CCN cấp huyện, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng cấp huyện, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Công Thương và các đơn vị khác làm chủ đầu tư. Tóm lại, có thể hiểu cụm công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ tại địa phương, chuyên sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp hay cung ứng dịch vụ phục vụ sản xuất, được đặc trưng bởi sự tập trung theo địa lý các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có sự chuyên môn hóa trong cùng một hoạt động hoặc một nhóm các hoạt động bổ trợ cho nhau.
Sự tập trung theo địa lý của các doanh nghiệp đã tạo ra các thể thức thúc đẩy sự hình thành và phát triển các mối quan hệ, sự hợp tác và cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cùng lãnh thổ cùng với đó tạo ra mạng lưới chuỗi cung cấp cho các doanh nghiệp khác nhau, đáp ứng nhu cầu phát triển chung, lợi ích chung cho các thành viên trên cùng một lãnh thổ. Vai trò của cụm công nghiệp ở các tỉnh. Việc hình thành, phát triển các CCN có tác động rất lớn đối với phát triển kinh tế của địa phương, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, giải quyết vấn đề việc làm và làm thay đổi một số yếu tố xã hội theo hướng tích cực. Cụ thể vai trò của cụm công nghiệp được thể hiện qua một số nội dung như sau: a, Cụm công nghiệp giúp góp phần thúc đẩy thu hút đầu tư tại địa phương.
6 Sự hình thành và phát triển các cụm công nghiệp gắn với mục tiêu kinh tế xã hội của địa phương và mục tiêu sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư. Do vậy phát triển các cụm công nghiệp sẽ thu hút vốn đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Nước ta đi lên từ nông nghiệp nên nguồn vốn rất hạn hẹp chính vì vậy thu hút vốn đầu tư, nhất là vốn từ nước ngoài là rất cần thiết. Việc Cụm công nghiệp được hình thành sẽ giải quyết được vấn đề về mặt bằng cũng như tiếp cận được nguồn vốn sản xuất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ sản xuất.
b, Nâng cao năng lực sản xuất nhờ áp dụng khoa học công nghệ tiến bộ. Bên trong các CCN đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất phải ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật mới, có các lộ trình cụ thể để thay thế các trang thiết bị cũ, lạc hậu, ô nhiễm môi trường. Với đà hội nhập phát triển kinh tế như hiện nay, để tránh bị tụt hậu lại phía sau về kinh tế, các nước đang phát triển muốn nhanh chóng phát triển khoa học kỹ thuật và nâng cao trình độ quản lý của mình để có thể thu hút vốn đầu tư, mở rộng sản xuất từ đó tiếp cận áp dụng được khoa học kỹ thuật hiện đại hơn. Đầu tư vào các cụm công nghiệp các nhà đầu tư sẽ được hưởng những ưu đãi riêng của nhà nước vì lợi ích từ các công trình hạ tầng, kỹ thuật đồng bộ sẵn sàng cho việc thực hiện dự án.
Các doanh nghiệp đầu tư sẽ giảm thiểu được đến mức tối đa đầu tư ban đầu cũng như chi phí sản xuất giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi phát triển cụm công nghiệp sẽ thu hút được các doanh nghiệp đầu tư, trong đó nhà đầu tư nước ngoài đầu tư là một thế mạnh vì ngoài việc thu hút vốn, họ còn mang công nghệ hiện đại vào sản xuất. Đó cũng là kinh nghiệm để các doanh nghiệp Việt Nam có thể học hỏi và phát triển. c, Giải quyết được việc làm cho lao động, tăng năng suất và thay đổi tác phong làm việc của lao động.
Đa phần tại các địa phương trên cả nước kinh tế vẫn còn phụ thuộc vào nông nghiệp, năng suất lao động còn thấp. Việc phát triển CCN sẽ giúp thay đổi phong cách làm việc theo hướng công nghiệp hóa, giúp lao động tăng thu nhập, giải quyết được việc làm, và phát triển kinh tế chung của địa phương. Bên cạnh giải quyết việc làm tại chỗ mà còn thu hút lao động tại các địa phương khác. Phần lớn lao động làm việc trong các CCN là lao động trẻ, có khả năng chủ động tiếp thu kỹ thuật công nghệ mới, hiện đại, thích ứng nhanh với thị trường.
Sự phát triển của các CCN cũng đã hình thành một đội ngũ công nhân có tác phong công nghiệp, có ý thức học tập và kỷ luật cao để đóng góp sức lực, trí tuệ hết mình cho công việc. Qua đó nâng cao năng suất và chất lượng lao động của các CCN được nâng cao. d, Giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Hiện nay, còn tồn tại nhiều cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường đan xen trong các khu dân cư, khu đô thị làm ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống dân cư trên khu vực Doanh nghiệp sản xuất.
Đặc biệt phải kể đến là các làng nghề truyền thống.