CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN 1. Khái quát về hành vi rửa tiền và hoạt động phòng chống rửa tiền 1. Khái niệm rửa tiền Hiện nay, khái niệm “rửa tiền”, “hành vi rửa tiền” không còn là vấn đề mới mẻ, xa lạ ở các quốc gia trên Thế giới. Thuật ngữ “rửa tiền” (money laundering) đã xuất hiện trên báo chí Hoa Kỳ vào năm 1973 trong một vụ bê bối tài chính Watergate.
Đến năm 1986, hành vi rửa tiền chính thức được luật hóa, được xem là hành vi bất hợp pháp trong Luật Quản lý rửa tiền năm 1986 của Mỹ. Tại Việt Nam, những hành vi có bản chất tương tự với hành vi rửa tiền đã được pháp lý hóa trong các văn bản pháp luật như: Luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày 12/12/19975, Bộ Luật Hình sự được Quốc Hội khóa X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21/12/19996. Tuy nhiên, đến năm 2005 thì thuật ngữ “rửa tiền” mới chính thức được sử dụng tại Nghị định 74/2005/NĐ-CP ngày 07/6/2005 về phòng, chống rửa tiền. Cho đến thời điểm hiện nay, vấn đề “rửa tiền” đã, đang và sẽ trở thành diễn đàn, nội dung chính của nhiều cuộc thảo luận mang tầm cỡ quốc tế của các quốc gia.
Đặc biệt là ngày càng nhiều tổ chức quốc tế tham gia vào công cuộc đấu tranh phòng, chống rửa tiền như: Liên Hiệp Quốc, Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF)7,Tổ chức Châu Á Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG)8,. Theo đó, mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế đã đưa ra các khái niệm riêng 5 Điều 19 Luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày 12/12/19997: “Trách nhiệm đối với các khoản tiền có nguồn gốc bất hợp pháp”. 6 Điều 251 Bộ Luật Hình sự được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21/12/1999 “Tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có”. 7 FATF – một tổ chức được công nhận là tổ chức đạt tiêu chuẩn quốc tế cho những nổ lực về chống rửa tiền, được thành lập vào năm 1989 bởi nhóm G7 – Canada, Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ.
8 Tổ chức quốc tế mang tính tự quản và hợp tác về chống rửa tiền, được thành lập vào tháng 5/2007. Việt Nam là thành viên thứ 33 của Tổ chức này. 7 để nhận diện hành vi rửa tiền, cụ thể: Theo tổ chức quốc tế Liên Hiệp Quốc thì: Rửa tiền là hành vi chuyển đổi hay chyển nhượng tài sản, cho dù biết đó là tài sản do phạm tội mà có, nhằm che dấu hoặc ngụy trang nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản đó hoặc nhằm giúp đỡ bất kỳ ai có liên quan đến việc thực hiện tội phạm gốc để lẫn tránh trách nhiệm pháp lý do hành vi của người này mang lại; Che dấu hoặc ngụy trang bản chất thực sự, nguồn gốc, địa điểm sự chuyển nhượng, sự vận chuyển hoặc sở hữu hoặc các quyền liên quan đến tài sản, dù biết tài sản đó do phạm tội mà có; Tham gia, phối hợp hoặc có âm mưu thực hiện hành vi, cố gắng thực hiện hành vi hay giúp sức, xúi giục, tạo điều kiện thuận lợi và bầy mưu để thực hiện bất kỳ một tội phạm tương ứng với quy định tại điều này khi biết rõ tài sản do phạm tội buôn bán ma túy mà có9. Theo FATF thì “rửa tiền là việc xử lý tiền do phạm tội mà có nhằm che đậy nguồn gốc bất hợp pháp của chúng, hợp pháp hóa những món lợi thu được một cách bất chính từ hành vi phạm tội”.
Tại Việt Nam, hành vi rửa tiền được khái niệm tại khoản 1 điều 3 Nghị định 74/2005/NĐ-CP ngày 07/6/2005 về phòng, chống rửa tiền, cụ thể như sau: Rửa tiền là hành vi của cá nhân, tổ chức tìm cách hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có thông qua các hoạt động cụ thể sau đây: Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào một giao dịch liên quan đến tiền, tài sản do phạm tội mà có; Thu nhận, chiếm giữ, chuyển dịch, chuyển đổi, chuyển nhượng; Đầu tư vào một dự án, một công trình, góp vốn vào một doanh nghiệp hoặc tìm cách khác che đậy, ngụy trang hoặc cản trở việc xác minh nguồn gốc, bản chất thật sự hoặc vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do phạm tội mà có. Từ những khái niệm trên thì nhìn chung khái niệm “rửa tiền” có thể được nhìn nhận ở những khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia, từng tổ chức, nhưng tựu trung lại thì các tổ chức quốc tế, các quốc gia đều thống nhất các vấn đề bản chất, quy trình, đặc điểm và tác động của hành rửa tiền, cụ thể như sau: Về bản chất: Hành vi rửa tiền là hành vi mà thông qua đó, cá nhân hay một 9 Điều 3 Công ước Viên năm 1980. 8 nhóm người sử dụng các công cụ và phương tiện để che giấu, ngụy trang hay tìm cách xóa bỏ nguồn gốc thật sự của khoản thu nhập bất hợp pháp. Về quy trình rửa tiền – biến “tiền bẩn” thành “tiền sạch”: Thông thường trải qua 03 giai đoạn: Giai đoạn 1, đưa tiền bẩn vào lưu thông trong hệ thống tài chính (sắp đặt): Đây là thao tác đầu tiên trong quy trình rửa tiền, các tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi rửa tiền thực hiện bố trí khoản tiền có nguồn gốc bất hợp pháp vào hệ thống tài chính bằng nhiều cách khác nhau như gửi tiền vào tài khoản ngân hàng, đổi tiền.
nhằm che dấu nguồn gốc xuất xứ, thay đổi hình thái tồn tại của tiền bẩn, tách nguồn tiền ra khỏi hoạt động tội phạm, hòa nhập vào hệ thống tài chính; Giai đoạn 2, quay vòng tiền (sắp lớp): Giai đoạn này nhằm phân lớp khoản tiền bẩn thành nhiều món tiền khác nhau, trộn lẫn với các món tiền khác thông qua các giao dịch tài chính nhằm tạo ra một mạng lưới giao dịch chằng chịt, phức tạp, khó lần ra dấu vết, cắt đứt một cách giả tạo mối liên hệ giữa hành vi phạm tội và tiền có được từ việc phạm tội; Giai đoạn 3, hòa nhập tiền đã rửa vào hệ thống tài chính (đầu tư hợp pháp): Đây là công đoạn cuối cùng của hành vi rửa tiền, sau khi đồng tiền bẩn được tạo ra một vỏ bọc hợp pháp thì tiền bẩn được đưa trở lại hệ thống tài chính để thực hiện các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh. Sau giai đoạn này, đồng tiền bẩn đã trở nên “sạch sẽ” và có khoảng cách khá xa so với tội phạm hình thành nên nó. Về đặc điểm: Cho dù hành vi rửa tiền được xem xét, nhìn nhận dưới góc độ nào đi chăng nữa thì hành vi này vẫn có đầy đủ các đặc điểm sau: Một là, rửa tiền là một loại hành vi “không biên giới”, một hành vi rửa tiền có thể xảy ra và kết thúc liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau, ở nhiều châu lục khác nhau; Hai là, mục đích của hành vi rửa tiền không nhằm tạo ra tài sản mà nhằm che đậy nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản; Ba là, rửa tiền là một loại hành vi phức tạp, trải qua một quy trình phức tạp, tinh vi, khó phát hiện và đối phó. Về các tác động của hành vi rửa tiền: Rửa tiền không trực tiếp ảnh hưởng đến tính mạng của con người, không trực tiếp làm mất đi tài sản của bất cứ cá nhân, gia đình nào.
Do vậy, thoạt nhìn, rửa tiền có vẻ là vô hại, không có nạn nhân, không có tổn thất. Xét dưới một góc độ nào đó, nhiều ý kiến cho rằng rửa tiền cũng mang 9 lại lợi ích, đặc biệt là đối với các nước có nền kinh tế đang phát triển, chẳng hạn như rửa tiền sẽ làm tăng nguồn vốn đầu tư (có thể là nguồn vốn phi pháp) vào các nước đang phát triển, tạo cơ hội cho việc phát triển hạ tầng, phát triển kinh tế (có thể mang tính chất nhất thời) ở các quốc gia này; rửa tiền sẽ làm cho tính thanh khoản được cải thiện đáng kể, giải quyết được bài toán cung – cầu ngoại tệ của quốc gia. Tuy nhiên, xét về bản chất, hành vi rửa tiền tác động rất lớn, rất nghiêm trọng đến nhiều lĩnh vực của xã hội, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế của các quốc gia đang phát triển, cụ thể: Thứ nhất, hoạt động rửa tiền làm tăng tội phạm, đặc biệt là tăng tình hình tham nhũng – một vấn đề khá phức tạp tại Việt Nam hiện nay. Mục đích của bọn tội phạm, đặc biệt là tội tham nhũng là tạo ra nhiều tiền, tạo ra lợi nhuận.
Tuy nhiên, việc sử dụng số tiền, số lợi nhuận có được từ việc phạm tội, từ việc tham nhũng là một bài toán hóc búa, dễ bị phanh phui, vạch trần hành vi vi phạm. Rửa tiền thành công giúp cho bọn tội phạm vừa sử dụng được nguồn tiền đã chiếm được, vừa né trách sự vạch trần, phanh phui hành vi vi phạm. Do đó, chừng nào một nước được coi là nơi ẩn náu an toàn cho hoạt động rửa tiền thì khi đó sẽ lôi cuốn tội phạm và thúc đẩy tham nhũng. Thứ hai, hoạt động rửa tiền làm giảm uy tín quốc gia và giảm đầu tư nước ngoài: Khi một quốc gia không kiểm soát được vấn nạn rửa tiền thì đồng nghĩa với việc quốc gia đó không có hệ thống tài chính minh bạch; không có hệ thống pháp luật chặt chẽ, nghiêm minh; các con số thống kê tài chính của quốc gia bị bóp méo, không phản ánh đúng bản chất thực tế.
Do vậy, các tuyên bố của quốc gia về tình hình tài chính gần như bị nghi ngờ về độ chính xác. Đồng nghĩa với việc giảm uy tín quốc gia, các nhà đầu tư nước ngoài luôn phải đặt dấu chấm hỏi trước khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào một nước có tình hình tài chính không ổn định. Họ luôn e dè bởi họ luôn phải đối mặt với nguy cơ không có khả năng thu hồi vốn, đặc biệt là việc tiếp cận với những nguồn vốn viện trợ, những khoản vay nợ nước ngoài với điều kiện ưu đãi hầu như là không thể đối với các quốc gia bị xếp hạng tín nhiệm kém, các quốc gia không tuân thủ phòng, chống rửa tiền. Thứ ba, hoạt động rửa tiền làm tổn hại khu vực tư nhân và nền kinh tế: Sự lưu chuyển các luồng tiền trong thế giới ngầm gây ra những đột biến trong cầu tiền 10 tệ và bất ổn định lãi suất, tỷ giá hối đoái.