CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA SẢN XUẤT, KINH DOANH CÁC SẢN PHẨM TRUYỀN THỐNG 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với DNNVV sản xuất, kinh doanh các sản phẩm truyền thống 1. Khái quát về DNNVV 1. Khái niệm về DNNVV Có nhiều khái niệm về DNNVV theo nhiều góc độ tiếp cận khác nhau.
Trong hệ thống văn bản quy định của Nhà nước hiện hành, một số khái niệm về DNNVV được sử dụng, cụ thể như sau: Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư: DNNVV ở Việt Nam là các chủ thể sản xuất kinh doanh được thành lập theo các qui định của pháp luật có qui mô về vốn hoặc số lao động phù hợp với qui định của Chính phủ. Theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 về trợ giúp phát triển DNNVV, định nghĩa DNNVV đã được hiểu thống nhất là: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở sản xuất - kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động trung bình hàng năm không quá 300 lao động”. Trong Nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV, khái niệm DNNVV được quy định như sau: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”. Cụ thể: 9 (1) DN siêu nhỏ là DN có dưới 10 lao động; (2) DN nhỏ trong nông, lâm nghiệp, thủy sản và trong công nghiệp, xây dựng là DN có vốn dưới 20 tỷ đồng và lượng lao động từ 10 đến 200 người; trong thương mại và dịch vụ thì là DN có dưới 10 tỷ tiền vốn và có từ 10 đến 50 lao động.
(3) DN vừa trong nông, lâm nghiệp, thủy sản và trong công nghiệp, xây dựng là DN có vốn từ 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng và lượng lao động từ 200 đến 300 người; trong thương mại và dịch vụ thì DN được xem là vừa khi có từ 10 tỷ đến 50 tỷ đồng tiền vốn và số lượng người lao động từ 50 người đến 100 người. Khi thực hiện theo Luật hỗ trợ DNNVV (2017) thì DNNVV được coi là DN có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và có tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Các DNNVV bao gồm DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa và được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ. Năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định 39/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ DNNVV.
Khái niệm DNNVV trong văn bản này hiện đang được sử dụng rộng rãi. Cụ thể như sau: “DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động và doanh thu bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa”. Trong đó, DNNVV được phân loại theo từng lĩnh vực hoạt động, cụ thể: (1) DN siêu nhỏ ở lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và xây dựng có số lao động tham gia BHXH không quá 10 người, ngoài ra tổng doanh thu của năm dưới 3 tỷ đồng hoặc tổng vốn đầu tư dưới 3 tỷ đồng. Trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, DN có số lao động tham gia BHXH bình quân không quá 10 người một năm và tổng tất cả doanh thu của năm dưới 10 tỷ đồng hoặc tổng vốn đầu tư không quá 3 tỷ đồng được phân loại vào DN siêu nhỏ.
(2) DN nhỏ: Các lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản và, công nghiệp 10 và lĩnh vực xây dựng có số lao động tham gia BHXH dưới 100 người/năm và tổng doanh thu của năm ít hơn 50 tỷ đồng hoặc tổng vốn đầu tư không quá 20 tỷ đồng. Trong các lĩnh vực thương mại và dịch vụ DN có số lao động tham gia BHXH không quá 50 người/năm và tổng doanh thu năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng vốn đầu tư không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là DN siêu nhỏ. (3) DN vừa: Trong các lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và lĩnh vực xây dựng có số lao động tham gia BHXH không quá 200 người/năm và tổng toàn bộ doanh thu không quá 200 tỷ đồng/năm hoặc tổng vốn đầu tư dưới 100 tỷ đồng, nhưng không phải là DN nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ. DN vừa thuộc lĩnh vực thương mại và dịch vụ có trung bình số lao động tham gia BHXH không quá 100 người/năm và tổng doanh thu của năm không vượt quá 300 tỷ đồng hoặc tổng vốn đầu tư không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là DN siêu nhỏ, DN nhỏ.
Tiêu chí phân loại DNNVV ở Việt Nam Nông, lâm nghiệp, thủy Lĩnh vực Thương mại, dịch vụ sản, công nghiệp, xây dựng “Có số lao “Tổng doanh Có số lao Tổng doanh động tham gia thu của năm động tham thu của năm BHXH bình không quá 3 tỷ gia BHXH không quá quân năm đồng hoặc bình quân 10 tỷ đồng DN siêu nhỏ không quá tổng nguồn năm không hoặc tổng 10 người” vốn không quá quá 10 người nguồn vốn 3 tỷ đồng” không quá 3 tỷ đồng 11 Nông, lâm nghiệp, thủy Lĩnh vực Thương mại, dịch vụ sản, công nghiệp, xây dựng Có số lao “Tổng doanh Có số lao Tổng doanh động tham gia thu không động tham thu của năm BHXH bình vượt 50 tỷ gia BHXH không quá quân năm đồng/năm bình quân 100 tỷ đồng DN nhỏ không quá hoặc tổng năm không hoặc tổng 100 người vốn dưới 20 quá 50 người nguồn vốn tỷ đồng” không quá 50 tỷ đồng Có trung bình “Tổng doanh Có số lao “Tổng doanh số lao động thu của năm động tham gia thu của năm tham gia không vượt BHXH bình không quá BHXH không quá 200 tỷ quân năm 300 tỷ đồng DN vừa quá 200 đồng hoặc không quá hoặc tổng người/năm tổng vốn dưới 100 người nguồn vốn 100 tỷ đồng” không quá 100 tỷ đồng” (Nguồn: Tổng hợp từ Nghị định số 39/2018/NĐ-CP) Bên cạnh đó, còn có những yêu cầu riêng biệt đối với từng DN kinh doanh trong từng ngành nghề nhất định. Tuy nhiên, Việt Nam đang chú trọng hỗ trợ các DNNVV có tiềm năng phát triển trong một hoặc nhiều ngành, lĩnh vực, địa bàn trong một hoặc nhiều giai đoạn. Việc xác định chính xác loại DN đóng vai trò quan trọng, bởi đối với từng loại hình DN sẽ được Nhà nước hỗ trợ và nhận được các ưu đãi liên quan đến thuế, thủ tục hành chính… khác nhau, giúp DN phát triển ngày càng lớn mạnh hơn. Như vậy, có nhiều quan điểm khác nhau về DNNVV, mỗi quan điểm có thể tiếp cận khái niệm dưới những góc độ khác nhau, phù hợp với mục tiêu khác 12 nhau.
Trong nghiên cứu này, DNNVV là một bộ phận cấu thành của hệ thống DN, bao gồm DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa, đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật; có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và có tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Khái niệm về sản phẩm truyền thống Sản phẩm truyền thống là những sản phẩm xuất hiện từ lâu trong lịch sử và vẫn còn tồn tại đến ngày nay, sản phẩm truyền thống gắn liền với các làng nghề truyền thống như các sản phẩm làng nghề đã tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm, có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố truyền thống và kinh nghiệm dân gian phổ biến đã được tích lũy qua nhiều thế hệ. Có rất nhiều sản phẩm truyền thống từ những làng nghề truyền thống ở Bắc Ninh như giấy Phong Khê, tranh dân gian Đông Hồ, gốm Luy Lâu, chạm khắc gỗ Đồng Giao, Đồng Kỵ, đúc đồng Đại Bái. Sản phẩm làng nghề, đặc biệt là làng nghề mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.
Các sản phẩm làng nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa, công sở nhà nước.Các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc. Sản phẩm truyền thống được sản xuất rất khéo léo và tinh vi, các kỹ thuật được giữ bí mật, truyền dạy cho người thân hoặc dân trong làng.Do đó, Làng đã trở thành một tổ chức rất quan trọng trong ngành thủ công mỹ nghệ. Tên của ngôi làng đã trở thành thương hiệu của các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của người dân.
"Đình Làng" - ngôi chùa của Làng trở thành nơi thờ phụng "ông tổ nghề" người đầu tiên đã dạy dân làng làm những hoạt động 13 thủ công mỹ nghệ. Khi Việt Nam phát triển đô thị hóa, nhiều người đã chuyển đến thị xã/ thành phố và chuyên nghiệp hóa các hoạt động thủ công mỹ nghệ mà họ đã thực hiện trong ngôi làng cũ của họ. Họ không cạnh tranh với nhau mà tập trung thành "Phường/Hội" nghề nghiệp, các hình thức mới của làng nghề, và giúp đỡ những người khác để cải thiện cuộc sống. [Ngọc Anh, 2019] Hiện nay, cả nước có khoảng 5.400 làng nghề, trong đó khoảng 2.000 làng nghề truyền thống với hơn 50 nhóm nghề như: sơn mài, gốm sứ, vàng bạc, thêu ren, mây tre đan, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá… với 115 nghề truyền thống đã được công nhận, thu hút khoảng 11 triệu lao động tham gia.
Các sản phẩm thủ công của các làng nghề truyền thống Việt Nam phong phú, đa dạng, mẫu mã đẹp, chất lượng cao. Quản lý nhà nước đối với DNNVV sản xuất, kinh doanh các sản phẩm truyền thống 1. Khái niệm về quản lý nhà nước Dưới cách tiếp cận của khoa học hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước; là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người” [Học viện Hành chính, 2006].