Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Quản lý nhà nước đối với biểu diễn nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay", chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính (mã số: 9380102), được tác giả Lương Thị Hòa thực hiện và bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội vào năm 2022.
Về tính cấp thiết, hoạt động biểu diễn nghệ thuật (BDNT) giữ vị trí then chốt trong đời sống tinh thần và là một trong 12 ngành trọng tâm thuộc Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam theo Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ, hướng tới mục tiêu đóng góp 7% GDP vào năm 2030. Bên cạnh các loại hình nghệ thuật truyền thống cần được bảo tồn (như tuồng, chèo, cải lương, ca trù), sự du nhập của các loại hình biểu diễn hiện đại và sự phát triển của công nghệ số, Internet và mạng xã hội đặt ra nhiều thách thức mới cho quản lý nhà nước (QLNN). Thực tiễn quản lý xuất hiện các hiện tượng lệch chuẩn văn hóa, thương mại hóa cực đoan và thiếu hụt các tác phẩm có giá trị tư tưởng cao. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, việc chuyển đổi tư duy quản lý từ phương thức tiền kiểm, cấm đoán sang cách tiếp cận dựa trên quyền con người và quyền công dân là một yêu cầu bức thiết.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: các công trình trước đây phần lớn tiếp cận hoạt động biểu diễn nghệ thuật dưới góc độ quản lý văn hóa, kinh tế văn hóa hoặc nghiên cứu đơn lẻ cho từng bộ môn truyền thống, chưa có công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính gắn với việc phân tích khung pháp lý mới (đặc biệt là Nghị định số 144/2020/NĐ-CP thay thế Nghị định số 79/2012/NĐ-CP).
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về BDNT và QLNN đối với BDNT, đánh giá những tồn tại, hạn chế của pháp luật và thực tiễn thực hiện hoạt động QLNN đối với BDNT trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN đối với BDNT nhằm đạt mục tiêu của Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền và bảo đảm thực hiện quyền con người.
Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản: các khái niệm liên quan (BDNT, QLNN đối với BDNT), sự cần thiết của QLNN đối với BDNT, các yếu tố tác động và kinh nghiệm quản lý của một số quốc gia.
- Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành và thực trạng hoạt động QLNN đối với BDNT, phân tích ưu điểm, hạn chế trong pháp luật và thực tiễn thực hiện giai đoạn hiện nay.
- Trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN đối với BDNT.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về NTBD, BDNT, QLNN đối với BDNT; sự cần thiết của QLNN; thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện hoạt động QLNN đối với BDNT; các quan điểm, định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả QLNN đối với BDNT.
- Phạm vi nội dung: Các hình thức BDNT truyền thống và hiện đại thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam dưới hai góc độ: giá trị văn hóa truyền thống và giá trị kinh tế (công nghiệp văn hóa).
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào pháp luật hiện hành trên cơ sở đối chiếu, so sánh hai giai đoạn: giai đoạn 1995 - 2012 và giai đoạn từ năm 2012 đến nay.
- Phạm vi không gian: Các hoạt động QLNN đối với BDNT được thực hiện trực tiếp và trực tuyến trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu liên quan theo các giai đoạn và nhóm nội dung:
Các công trình nghiên cứu trong nước giai đoạn 1992 - 2012
Giai đoạn này gắn liền với quá trình Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và bước đầu hội nhập:
- Nhóm sách lý luận và dịch thuật: Bài viết của Lương Hồng Quang (2001) trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật tổng thuật cuốn "Management and the Arts" của W. J. Byrnes; tập tài liệu "Nhập môn Quản lý Văn hóa nghệ thuật" do Lương Hồng Quang và Đỗ Thị Thanh Thủy dịch (2004); cuốn sách "Một số vấn đề lý luận quản lý văn hóa trong thời kỳ đổi mới" (1996, NXB Chính trị quốc gia 2006); tuyển tập "Về lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật trong công cuộc đổi mới" của Nguyễn Duy Bắc (2001).
- Nhóm nghiên cứu kinh tế văn hóa và tài chính nghệ thuật: Bài viết "Tổ chức nghệ thuật và vấn đề quản lý tài chính" (2004) của Lương Hồng Quang; bài viết "ngành quản lý văn hóa" (2009) của Phạm Bích Huyền; công trình "Văn học, nghệ thuật trong cơ chế thị trường và hội nhập" của Hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương (2008) với các bài viết của Chu Thúy Quỳnh, Lê Chức, Đỗ Hồng Quân; cuốn "Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế" của Nguyễn Chí Bền (2010); bài viết "Quản lý văn hóa ở một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam" của Bùi Hoài Sơn và Phan Hồng Giang (2011).
- Đề tài khoa học và luận án: Đề tài cấp Bộ của Đinh Thị Vân Chi (2005) về giải pháp QLNN phát triển thị trường văn hóa; đề tài cấp Bộ của Nguyễn Danh Ngà, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Minh Linh (2001) về cơ chế tự chủ tài chính cho hoạt động BDNT; các hội thảo khoa học của Cục Nghệ thuật biểu diễn (2006, 2012) và Bộ Văn hóa - Thông tin (2006); tham luận của Bùi Văn Tuấn (2008); tập bài giảng của Nguyễn Văn Hòa (2010); luận án tiến sĩ của Võ Thị Yến (2001) về sân khấu cải lương Nam Bộ.
Các công trình nghiên cứu trong nước từ năm 2012 đến nay
Giai đoạn gắn với Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền:
- Nhóm sách và bài báo chuyên ngành: Cuốn sách "Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế" của Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (2014); bài viết của Đào Thị Hoàn và Nguyễn Phương Chi (2013); bài viết của Nguyễn Huy Phòng về hoàn thiện chính sách, pháp luật văn hóa; bài viết của Trần Quốc Toản (2018) về vị trí, vai trò của văn hóa; bài viết của Đỗ Thị Thanh Hoa và Trần Phương Mai về nghệ thuật công cộng; bài viết của Trương Thị Thu Hiền (2021) về hoàn thiện hoạt động QLNN phát triển văn hóa.
- Nhóm đề tài và hội thảo: Đề tài cấp Bộ (2014 - 2015) do Bộ VHTTDL chủ trì về phát triển thị trường văn hóa; đề tài của Đinh Quang Trung và Nguyễn Đăng Chương (2014) về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị NTBD; đề tài của Nguyễn Kiều Duyên (2014) về tự chủ tài chính tại các trường nghệ thuật, thể thao; đề tài của Trương Nhuận (2014) về khảo sát marketing tại Nhà hát Tuổi trẻ và Sân khấu IDECAF; hội thảo 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 Khóa VIII (2013) với tham luận của Lê Tiến Thọ.
- Nhóm luận án và luận văn: Luận án của Nguyễn Thị Kim Liên (2015) về công nghiệp văn hóa tại TP. Hồ Chí Minh; luận án của Nguyễn Thanh Xuân (2017) về quản lý nhân lực trong tổ chức NTBD công lập ở Hà Nội; luận án của Nguyễn Hoàng Chương (2017) về xã hội hóa sân khấu kịch công lập; luận án của Hoàng Thị Bình (2018) về QLNN văn hóa cấp cơ sở tại Hà Nội; luận văn của Trần Hoàng Minh (2018) về quản lý BDNT không chuyên tại quận Hoàn Kiếm; luận văn của Mai Việt Dũng (2020) về QLNN hoạt động NTBD.
Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Các công trình quốc tế tiêu biểu gồm: tác phẩm "Management and The Arts" của W. J. Byrnes về quy trình lập kế hoạch, điều hành và giám sát nghệ thuật; "Những vấn đề cốt yếu của quản lý" (1992) của Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich; tác phẩm "The Economics of Art and Culture - An American Perspective" của James Heilbrun và Charles M. Gray về kinh tế học nghệ thuật, chính sách công và thị trường biểu diễn tại Hoa Kỳ.
Vị trí của luận án: Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu lý luận về quản trị văn hóa và kinh tế nghệ thuật, đồng thời khắc phục khoảng trống nghiên cứu pháp lý bằng cách đặt hoạt động BDNT vào trọng tâm điều chỉnh của Luật Hành chính và Luật Hiến pháp, áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người và phân tích thực tiễn áp dụng Nghị định số 144/2020/NĐ-CP.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận và khung lý thuyết
- Cơ sở lý luận nền tảng: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và QLNN, các nghị quyết của Đảng (Nghị quyết số 33-NQ/TW, Kết luận số 76-KL/TW, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII) và Quyết định số 1909/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
- Khung phân tích: Tiếp cận dựa trên quyền (rights-based approach). Luận án nhìn nhận BDNT là quyền của người biểu diễn (quyền tự do sáng tạo nghệ thuật), quyền hưởng thụ văn hóa của công chúng, quyền kinh doanh của tổ chức, cá nhân tổ chức biểu diễn. Khung tiếp cận này chuyển dịch tư duy quản lý hành chính từ can thiệp hành chính thuần túy sang tôn trọng, bảo đảm và thúc đẩy quyền.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận án kết hợp chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:
- Phương pháp phân tích: Mổ xẻ các khái niệm lý luận, cấu trúc quy phạm pháp luật trong các nghị định (Nghị định số 79/2012/NĐ-CP, Nghị định số 144/2020/NĐ-CP, Nghị định số 22/2018/NĐ-CP) và các điều khoản của Luật Sở hữu trí tuệ theo chuẩn mực bảo vệ quyền con người.
- Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa các chủ trương, văn bản quy phạm pháp luật và tư liệu từ các công trình nghiên cứu, báo cáo chuyên ngành qua từng thời kỳ lịch sử.
- Phương pháp thống kê và nghiên cứu vụ việc điển hình: Sử dụng các số liệu thực tế về hệ thống đơn vị nghệ thuật công lập, số liệu di sản văn hóa phi vật thể, mức độ phổ cập Internet tại Việt Nam và các vụ việc sai phạm điển hình trong hoạt động biểu diễn để minh chứng cho thực trạng.
- Phương pháp hệ thống: Đặt các quy định pháp luật và thiết chế quản lý BDNT trong chỉnh thể hệ thống chính trị, kinh tế - xã hội và văn hóa của Việt Nam.
- Phương pháp so sánh luật học: Nghiên cứu, đối chiếu kinh nghiệm QLNN đối với BDNT tại 3 quốc gia: Vương quốc Anh (đại diện hệ thống Thông luật Common Law, tiếp cận sớm theo quyền), Trung Quốc (tương đồng về thể chế chính trị - xã hội) và Hàn Quốc (quốc gia có nền công nghiệp văn hóa và biểu diễn nghệ thuật phát triển mạnh, có sức ảnh hưởng sâu rộng đến giới trẻ Việt Nam).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Chương 1 tổng thuật chi tiết bức tranh nghiên cứu trong và ngoài nước về QLNN đối với văn hóa và BDNT qua hai mốc thời gian (1992 - 2012 và 2012 đến nay). Tác giả chỉ ra rằng đa số nghiên cứu dừng lại ở cấp độ quản lý văn hóa chung hoặc góc độ kinh tế - tài chính, tự chủ của đơn vị sự nghiệp. Từ việc tổng thuật, chương này xác định câu hỏi nghiên cứu: Cơ sở lý luận và pháp lý nào cho việc chuyển đổi phương thức QLNN đối với BDNT trong bối cảnh kinh tế thị trường, công nghệ số và xây dựng Nhà nước pháp quyền? Làm thế nào để vừa bảo tồn di sản phi vật thể truyền thống, vừa phát triển công nghiệp biểu diễn thành ngành kinh tế đóng góp vào GDP? Giả thuyết nghiên cứu khẳng định: Việc hoàn thiện pháp luật theo hướng tiếp cận dựa trên quyền và xây dựng Luật Biểu diễn nghệ thuật là điều kiện tiên quyết để giải quyết các mâu thuẫn giữa tự do sáng tạo và kiểm soát trật tự xã hội.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận và pháp lý quản lý nhà nước đối với biểu diễn nghệ thuật
Chương 2 làm rõ hệ thống khái niệm, đặc điểm và phân loại BDNT, đồng thời thiết lập khung lý luận cho hoạt động QLNN đối với lĩnh vực này.
Khái niệm và đặc điểm của biểu diễn nghệ thuật
- Khái niệm: Luận án phân tích sự phát triển của khái niệm BDNT qua các văn bản pháp lý:
- Quyết định số 47/2004/QĐ-BVHTTDL: Xác định BDNT là hoạt động đưa chương trình, tiết mục, vở diễn đến với công chúng qua sự trình diễn của diễn viên chuyên nghiệp.
- Nghị định số 79/2012/NĐ-CP (Điều 2): "Biểu diễn nghệ thuật là trình diễn chương trình, tiết mục, vở diễn trực tiếp trước công chúng của người biểu diễn".
- Nghị định số 144/2020/NĐ-CP (Điều 2 Khoản 2): "Biểu diễn nghệ thuật là hoạt động thể hiện các loại hình nghệ thuật biểu diễn, thi người đẹp, người mẫu hoặc kết hợp giữa loại hình nghệ thuật biểu diễn với trình diễn thời trang, các hoạt động văn hoá, thể thao".
- Dưới góc độ quyền tác giả và quyền liên quan (Điểm b Khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 21 Khoản 1 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP), biểu diễn là quyền trình diễn tác phẩm trực tiếp hoặc thông qua bản ghi âm, ghi hình hoặc phương tiện kỹ thuật đến công chúng.
- Bản chất: BDNT là quá trình "sáng tạo lần thứ hai" (sau quá trình sáng tác kịch bản, âm nhạc), gắn liền với thân thể, kỹ năng và cảm xúc của nghệ sĩ; đóng vai trò cầu nối chuyển hóa tác phẩm từ dạng tiềm năng thành hiện thực nghệ thuật sống động.
- Đặc điểm: Có tính nhạy cảm tư tưởng cao; tác động trực tiếp đến nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ của công chúng; vừa chịu sự chi phối của quy luật kinh tế - chính trị, vừa có tính độc lập nghệ thuật tương đối; là công cụ giáo dục nhân cách nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro nếu bị lợi dụng để truyền bá nội dung lệch chuẩn.
Phân loại biểu diễn nghệ thuật
Luận án xây dựng hệ thống phân loại toàn diện dựa trên 3 tiêu chí chính:
| Tiêu chí phân loại |
Các nhóm loại hình |
Đặc điểm quản lý và số liệu minh chứng |
| Căn cứ theo tính chất nghề nghiệp |
• BDNT chuyên nghiệp • BDNT không chuyên |
• Chuyên nghiệp: Diễn viên có trình độ chuyên môn, tổ chức bài bản. Theo Cục Nghệ thuật biểu diễn (2020), cả nước có 118 đơn vị sự nghiệp công lập (12 đơn vị Trung ương, 17 đơn vị lực lượng vũ trang, 89 đơn vị địa phương); danh mục theo Quyết định số 527/QĐ-TTg ngày 15/5/2018. • Không chuyên: Quy mô nhỏ, tự phát tại xã, phường, đội nhóm phong trào; chủ yếu vận hành theo phương thức xã hội hóa, tự nguyện. |
| Căn cứ theo mục đích hoạt động |
• BDNT vì mục đích công • BDNT vì mục đích kinh doanh |
• Mục đích công: Phục vụ chính trị, tuyên truyền đường lối, kỷ niệm ngày lễ lớn, ngoại giao văn hóa; sử dụng ngân sách nhà nước, ít vi phạm. • Mục đích kinh doanh: Hoạt động thương mại nhằm tìm kiếm lợi nhuận (bán vé liveshow, biểu diễn tại phòng trà, nhà hàng, phát hành trực tuyến/livestream trên YouTube, Facebook, TikTok); dễ phát sinh vi phạm về bản quyền, giá vé, an ninh trật tự, thuần phong mỹ tục. |
| Căn cứ theo dấu hiệu thời gian |
• BDNT dân gian • BDNT đương đại |
• Dân gian: Nghệ thuật truyền thống (tuồng, chèo, cải lương, ca trù...). Gắn liền với 14 di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được UNESCO ghi danh; kén khán giả trẻ, khó tự chủ tài chính, cần nhà nước hỗ trợ và đào tạo nghệ nhân. • Đương đại: Tiếp thu xu hướng thế giới, đổi mới hình thức; phổ biến mạnh mẽ trên không gian mạng (số liệu tháng 1/2021: Việt Nam có 97,8 triệu dân, 37,17 triệu dân thành thị dùng Internet, chiếm 70,3% dân số). |
Danh sách 14 di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được UNESCO ghi danh được luận án điểm danh cụ thể:
- Nhã nhạc - Nhạc Cung đình Triều Nguyễn
- Không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên
- Dân ca Quan họ Bắc Ninh
- Hát Ca trù
- Hội Gióng ở Đền Phù Đổng và Đền Sóc
- Hát Xoan Phú Thọ
- Tín ngưỡng Thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ
- Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ
- Dân ca Ví, Giặm ở Nghệ Tĩnh
- Nghi lễ và trò chơi Kéo co
- Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt
- Nghệ thuật Bài Chòi ở Trung Bộ
- Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái
- Nghệ thuật Xòe Thái
Khái niệm, đặc điểm và sự cần thiết của QLNN đối với BDNT
- Khái niệm QLNN đối với BDNT: Là sự tác động có tổ chức, mang tính quyền lực nhà nước của các cơ quan quản lý có thẩm quyền lên các chủ thể tham gia hoạt động sáng tác, biểu diễn, tổ chức và thụ hưởng BDNT, nhằm định hướng tư tưởng, duy trì trật tự pháp luật, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển.
- Chủ thể quản lý: Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Nghệ thuật biểu diễn), Ủy ban nhân dân các cấp (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch / Sở Văn hóa và Thể thao), các cơ quan thanh tra văn hóa và các bộ, ngành liên quan.
- Hình thức và phương pháp quản lý: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thẩm định và ban hành văn bản chấp thuận biểu diễn, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính, áp dụng chính sách tài chính, đặt hàng dịch vụ công và hỗ trợ nghệ nhân.
- Kinh nghiệm quốc tế:
- Vương quốc Anh: Áp dụng nguyên tắc tự do biểu đạt theo truyền thống Thông luật, quản lý thông qua hệ thống phân cấp tự quản của các hội đồng nghệ thuật (Arts Council), kết hợp tài trợ công với giám sát tiêu chuẩn nội dung nhằm ngăn chặn kích động bạo lực và thù hận.
- Trung Quốc: Quản lý chặt chẽ theo định hướng chính trị, kiểm soát nghiêm ngặt nội dung kịch bản và tư cách pháp lý của nghệ sĩ, ban hành quy chế xử lý nghệ sĩ vi phạm đạo đức chuẩn mực xã hội, đồng thời đầu tư quy mô lớn cho các đoàn nghệ thuật biểu diễn quốc gia.
- Hàn Quốc: Kết hợp bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể thông qua việc phong tặng danh hiệu "Báu vật quốc gia sống" cho nghệ nhân, đồng thời xây dựng khung pháp lý thông thoáng hỗ trợ công nghiệp giải trí (K-pop, nhạc kịch) vươn ra thị trường toàn cầu.
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với biểu diễn nghệ thuật
Chương 3 đi sâu đánh giá hệ thống văn bản pháp luật và thực tiễn thi hành công tác quản lý tại Việt Nam:
Thực trạng pháp luật quản lý nhà nước
- Luận án phân tích tiến trình lập quy từ các thông tư, quy chế (Quyết định số 47/2004/QĐ-BVHTTDL), bước chuyển tiếp sang Nghị định số 79/2012/NĐ-CP và đổi mới căn bản tại Nghị định số 144/2020/NĐ-CP.
- Đánh giá Nghị định số 144/2020/NĐ-CP: Đã bãi bỏ cơ chế cấp giấy phép biểu diễn hành chính phức tạp trước đây, chuyển sang cơ chế "văn bản chấp thuận" tổ chức biểu diễn nghệ thuật và tăng cường phân cấp thẩm quyền về cho UBND cấp tỉnh. Đồng thời, văn bản đã mở rộng phạm vi điều chỉnh bao gồm cả các cuộc thi sắc đẹp, người mẫu.
- Hạn chế của pháp luật:
- Văn bản điều chỉnh cao nhất hiện nay chỉ ở cấp Nghị định của Chính phủ, thiếu một văn bản luật do Quốc hội ban hành để tạo hành lang pháp lý vững chắc, tương thích với quy định của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền con người, quyền tự do sáng tạo.
- Quy định về các hành vi bị cấm trong hoạt động BDNT còn mang tính định tính, chung chung (như quy định về "trái với thuần phong mỹ tục", "ảnh hưởng đến an ninh trật tự"), gây khó khăn cho chủ thể thực thi và dễ dẫn đến sự tùy nghi áp dụng của cơ quan quản lý.
- Thiếu các quy định chi tiết để quản lý các chương trình BDNT phát tán trực tiếp hoặc gián tiếp qua nền tảng kỹ thuật số xuyên biên giới (livestream mạng xã hội).
Thực tiễn thực hiện hoạt động quản lý
- Về thẩm quyền và giải quyết thủ tục: Việc phân cấp thẩm quyền về địa phương theo Nghị định số 144/2020/NĐ-CP giúp giảm thủ tục cho cơ sở, nhưng năng lực thẩm định chuyên môn của cán bộ cấp quận/huyện và một số sở địa phương còn chênh lệch.
- Hoạt động phối hợp liên ngành: Sự phối hợp giữa ngành văn hóa với công an, thuế, quản lý thị trường, thông tin và truyền thông trong kiểm soát an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy, kiểm soát bản quyền tác giả và nghĩa vụ nộp thuế của các nghệ sĩ chưa thực sự đồng bộ.
- Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm: Việc phát hiện và xử lý vi phạm đối với các hoạt động biểu diễn trực tuyến, vi phạm quy tắc ứng xử của nghệ sĩ trên không gian mạng và vi phạm bản quyền còn chậm, chế tài xử phạt hành chính chưa đủ sức răn đe đối với các đơn vị tổ chức thương mại quy mô lớn.
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
- Nguyên nhân khách quan: Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin và mạng xã hội; tác động của mặt trái kinh tế thị trường dẫn đến tâm lý chạy theo lợi nhuận; sự xâm nhập đa dạng của các luồng văn hóa ngoại lai.
- Nguyên nhân chủ quan: Cơ cấu bộ máy quản lý chưa tinh gọn, thiếu nhân lực được đào tạo chuyên sâu về quản lý công nghiệp văn hóa và luật học; tư duy quản lý văn hóa chậm đổi mới, nặng về tiền kiểm; cơ chế tự chủ tài chính cho các đơn vị nghệ thuật công lập còn nhiều vướng mắc; chế độ đãi ngộ đối với nghệ sĩ biểu diễn truyền thống chưa thỏa đáng.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước biểu diễn nghệ thuật trong giai đoạn hiện nay
Chương 4 vạch ra phương hướng và các nhóm giải pháp đồng bộ:
Quan điểm chỉ đạo
- Bám sát Nghị quyết số 33-NQ/TW và Kết luận số 76-KL/TW: Đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị; văn hóa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển bền vững đất nước.
- Quán triệt Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: Phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam; phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa trên cơ sở khoa học công nghệ và bản quyền trí tuệ.
- Thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 (Quyết định số 1909/QĐ-TTg): Tăng cường đầu tư, đổi mới sáng tạo, tạo đột phá thể chế, phấn đấu giá trị gia tăng của các ngành công nghiệp văn hóa (đặc biệt là BDNT) đóng góp 7% GDP.
Hệ thống giải pháp cụ thể
- Hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước về biểu diễn nghệ thuật:
- Nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật Biểu diễn nghệ thuật nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý, luật hóa các quy định bảo đảm quyền con người, quyền tự do sáng tạo nghệ thuật của công dân theo Hiến pháp năm 2013.
- Cụ thể hóa các tiêu chí, hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động biểu diễn để loại bỏ tính định tính; hoàn thiện cơ chế chuyển đổi triệt để từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" gắn với trách nhiệm giải trình của đơn vị tổ chức.
- Bổ sung quy chế pháp lý điều chỉnh hoạt động BDNT trên môi trường Internet, mạng xã hội và các nền tảng xuyên biên giới.
- Nâng cao năng lực bộ máy và đội ngũ cán bộ:
- Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương; phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan tham mưu chính sách (Bộ VHTTDL, Cục Nghệ thuật biểu diễn) và cơ quan thực thi, cấp phép, thanh tra.
- Nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức pháp luật và kỹ năng quản lý công nghệ số cho đội ngũ công chức văn hóa; thành lập các Hội đồng nghệ thuật độc lập có sự tham gia của các chuyên gia uy tín để hỗ trợ thẩm định.
- Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động văn hóa, biểu diễn nghệ thuật:
- Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính và cơ chế nhà nước "đặt hàng" tác phẩm nghệ thuật có giá trị tư tưởng cao đối với các đơn vị nghệ thuật công lập.
- Ban hành chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng nhằm thu hút các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân ngoài công lập đầu tư cơ sở vật chất, sân khấu, trang thiết bị biểu diễn hiện đại.
- Xây dựng chính sách đãi ngộ, bảo tồn đặc thù (trợ cấp, đào tạo truyền nghề) dành cho các nghệ nhân, nghệ sĩ thuộc các loại hình nghệ thuật truyền thống, di sản văn hóa phi vật thể.
- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào quản lý biểu diễn nghệ thuật:
- Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nghệ sĩ, đơn vị biểu diễn, tác phẩm và chương trình nghệ thuật.
- Triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến đối với thủ tục tiếp nhận thông báo và văn bản chấp thuận biểu diễn.
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giám sát, phát hiện vi phạm bản quyền và các chương trình biểu diễn phản cảm trên không gian mạng.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận
- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên dưới góc độ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính tiếp cận hoạt động BDNT dựa trên quyền (quyền của người biểu diễn, quyền thụ hưởng văn hóa của công chúng, quyền tự do kinh doanh dịch vụ văn hóa).
- Làm sáng tỏ nội hàm, ranh giới và mối quan hệ giữa hai khái niệm "Nghệ thuật biểu diễn" và "Biểu diễn nghệ thuật"; xác lập cơ sở lý luận để phân loại BDNT theo tính chất nghề nghiệp, mục đích hoạt động và dấu hiệu thời gian nhằm xác định đúng phạm vi can thiệp của QLNN.
- Luận giải sự cần thiết phải dung hòa hai mục tiêu: bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phát triển BDNT như một ngành kinh tế mũi nhọn thuộc công nghiệp văn hóa.
Về mặt thực tiễn
- Đánh giá toàn diện sự thay đổi của khung pháp lý quản lý BDNT qua hai giai đoạn (1995 - 2012 và 2012 đến nay), chỉ ra những ưu điểm và bất cập khi chuyển từ cơ chế cấp phép biểu diễn sang văn bản chấp thuận theo Nghị định số 144/2020/NĐ-CP.
- Phân tích thực trạng quản lý đối với 118 đơn vị nghệ thuật công lập, công tác quản lý 14 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh, cũng như các thách thức từ môi trường mạng xã hội và không gian số.
- Đề xuất giải pháp mang tính chiến lược: nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật Biểu diễn nghệ thuật, cùng hệ thống giải pháp về bộ máy, cơ chế xã hội hóa và ứng dụng công nghệ số đáp ứng mục tiêu Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trên lãnh thổ Việt Nam và tập trung chủ yếu vào các loại hình BDNT truyền thống và hiện đại theo quy định của pháp luật Việt Nam giai đoạn 1995 - 2022. Do Nghị định số 144/2020/NĐ-CP mới được ban hành cuối năm 2020, thực tiễn thi hành văn bản này tại thời điểm bảo vệ luận án (2022) chưa tích lũy được chuỗi dữ liệu đa năm hoàn chỉnh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu sâu các tác động pháp lý cụ thể đối với hoạt động biểu diễn nghệ thuật trên vũ trụ ảo (metaverse), thực tế ảo, quyền sở hữu trí tuệ phát sinh từ các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, và đánh giá tác động chi tiết của các cam kết quốc tế trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đối với thị trường dịch vụ biểu diễn nghệ thuật tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Nghệ thuật biểu diễn, Bộ Tư pháp trong việc tham mưu xây dựng dự án Luật Biểu diễn nghệ thuật, hoàn thiện các nghị định hướng dẫn và chuẩn hóa quy trình chấp thuận biểu diễn.
- Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị cho công tác giảng dạy, nghiên cứu các học phần Luật Hành chính, Luật Hiến pháp, Quản lý văn hóa, Sở hữu trí tuệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội và các cơ sở giáo dục đại học chuyên ngành luật, văn hóa nghệ thuật.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học: Định hình phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa luật học và khoa học văn hóa, cung cấp khung phương pháp luận tiếp cận dựa trên quyền để phát triển các đề tài nghiên cứu về công nghiệp văn hóa và quyền văn hóa.
- Đối với các đơn vị biểu diễn và nghệ sĩ: Giúp các nhà hát, doanh nghiệp tổ chức sự kiện, người biểu diễn nắm bắt rõ quyền, nghĩa vụ pháp lý và quy chuẩn hành chính trong quá trình sáng tạo và tổ chức hoạt động biểu diễn nghệ thuật.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm biểu diễn nghệ thuật theo Nghị định số 144/2020/NĐ-CP có điểm gì mới so với các văn bản trước đây?
Nghị định số 144/2020/NĐ-CP (Điều 2 Khoản 2) đã mở rộng phạm vi khái niệm BDNT: không chỉ bó hẹp ở việc trình diễn chương trình, tiết mục, vở diễn của diễn viên như trước, mà bao gồm cả hoạt động thi người đẹp, người mẫu hoặc kết hợp giữa nghệ thuật biểu diễn với trình diễn thời trang, các hoạt động văn hóa, thể thao; đồng thời chuyển đổi phương thức quản lý từ "cấp giấy phép" sang "văn bản chấp thuận".
2. Luận án phân loại biểu diễn nghệ thuật theo những tiêu chí nào?
Luận án phân loại BDNT theo 3 tiêu chí:
- Theo tính chất nghề nghiệp: BDNT chuyên nghiệp và BDNT không chuyên.
- Theo mục đích hoạt động: BDNT vì mục đích công (chính trị, sự nghiệp) và BDNT vì mục đích kinh doanh (thương mại, giải trí).
- Theo dấu hiệu thời gian: BDNT dân gian (nghệ thuật truyền thống) và BDNT đương đại.
3. Theo số liệu trong luận án, Việt Nam có bao nhiêu đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động biểu diễn nghệ thuật và bao nhiêu di sản phi vật thể được UNESCO ghi danh?
Theo thống kê năm 2020 của Cục Nghệ thuật biểu diễn được nêu trong luận án, Việt Nam có 118 đơn vị sự nghiệp công lập có chức năng BDNT (gồm 12 đơn vị Trung ương, 17 đơn vị lực lượng vũ trang và 89 đơn vị địa phương). Đồng thời, Việt Nam có 14 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO ghi danh (tính đến thời điểm nghiên cứu).
4. Vì sao luận án đề xuất tiếp cận quản lý nhà nước đối với biểu diễn nghệ thuật dựa trên quyền con người?
Vì biểu diễn nghệ thuật gắn liền với quyền tự do sáng tạo văn học nghệ thuật của người biểu diễn và quyền thụ hưởng văn hóa của công chúng theo Hiến pháp năm 2013. Cách tiếp cận dựa trên quyền giúp cơ quan nhà nước chuyển đổi tư duy từ tiền kiểm, cấm đoán sang thể chế hóa và bảo đảm thực thi quyền của cá nhân, tổ chức, phù hợp với chuẩn mực của Nhà nước pháp quyền.
5. Kiến nghị lập pháp trọng tâm của luận án là gì?
Kiến nghị lập pháp cốt lõi của luận án là nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật Biểu diễn nghệ thuật nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý từ cấp Nghị định lên cấp Luật, thiết lập hành lang pháp lý vững chắc cho công nghiệp văn hóa phát triển, bảo tồn di sản dân tộc và quản lý hiệu quả hoạt động biểu diễn trong kỷ nguyên số.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lương Thị Hòa là công trình nghiên cứu chuyên sâu về quản lý nhà nước đối với biểu diễn nghệ thuật tại Việt Nam dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, tiếp cận dựa trên quyền con người và đánh giá toàn diện thực trạng chuyển đổi từ cơ chế cấp phép sang văn bản chấp thuận theo Nghị định số 144/2020/NĐ-CP. Các phát hiện thực tiễn và nhóm giải pháp trọng tâm—đặc biệt là đề xuất xây dựng Luật Biểu diễn nghệ thuật và thúc đẩy công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP đến năm 2030—đóng góp nguồn tư liệu khoa học quan trọng cho công tác hoàn thiện thể chế pháp luật và quản lý văn hóa ở nước ta.