Quản Lý Nhà Nước Đối Với Biểu Diễn Nghệ Thuật Ở Việt Nam Hiện Nay

Tài liệu nghiên cứu Quản lý nhà nước đối với biểu diễn nghệ thuật ở việt nam hiện nay, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Luật Học

2022

174
11
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quản Lý Nhà Nước Đối Với Biểu Diễn Nghệ Thuật Ở Việt Nam

Quản lý nhà nước đối với biểu diễn nghệ thuật (BDNT) ở Việt Nam là một lĩnh vực quan trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển văn hóa và kinh tế. BDNT không chỉ là hoạt động giải trí mà còn là một phần của công nghiệp văn hóa, góp phần quảng bá hình ảnh quốc gia. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, việc quản lý BDNT cần được chú trọng để bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống.

1.1. Khái Niệm Và Vai Trò Của Biểu Diễn Nghệ Thuật

Biểu diễn nghệ thuật là hoạt động nghệ thuật được thực hiện trước công chúng, bao gồm nhiều hình thức như âm nhạc, múa, kịch. Vai trò của BDNT không chỉ dừng lại ở giải trí mà còn là cầu nối văn hóa giữa các thế hệ và các nền văn hóa khác nhau.

1.2. Chính Sách Văn Hóa Liên Quan Đến Nghệ Thuật Biểu Diễn

Chính sách văn hóa của Nhà nước Việt Nam đã xác định rõ vai trò của BDNT trong việc phát triển kinh tế và văn hóa. Các văn bản pháp luật như Nghị quyết số 33-NQ/TW đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát triển nghệ thuật biểu diễn trong bối cảnh hiện đại.

II. Thực Trạng Quản Lý Nhà Nước Đối Với Biểu Diễn Nghệ Thuật Ở Việt Nam

Thực trạng quản lý nhà nước đối với BDNT hiện nay cho thấy nhiều thách thức và hạn chế. Các quy định pháp luật chưa hoàn thiện, dẫn đến việc thực hiện quản lý gặp khó khăn. Nhiều hoạt động nghệ thuật vẫn chưa được cấp phép hoặc quản lý chặt chẽ, gây ảnh hưởng đến chất lượng và sự phát triển của nghệ thuật biểu diễn.

2.1. Những Quy Định Pháp Luật Hiện Hành

Các quy định pháp luật hiện hành về BDNT còn thiếu tính đồng bộ và chưa đáp ứng kịp thời với sự phát triển của nghệ thuật. Việc cấp phép cho các hoạt động nghệ thuật thường gặp nhiều rào cản, ảnh hưởng đến sự sáng tạo của nghệ sĩ.

2.2. Những Hạn Chế Trong Thực Tiễn Quản Lý

Thực tiễn quản lý BDNT còn nhiều hạn chế, như thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng. Điều này dẫn đến tình trạng một số hoạt động nghệ thuật không được kiểm soát, gây ra những hệ lụy tiêu cực cho văn hóa nghệ thuật.

III. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Đối Với Biểu Diễn Nghệ Thuật

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với BDNT, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Việc hoàn thiện các quy định pháp luật, tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý và đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa là những yếu tố quan trọng.

3.1. Hoàn Thiện Pháp Luật Về Nghệ Thuật Biểu Diễn

Cần rà soát và sửa đổi các quy định pháp luật liên quan đến BDNT để đảm bảo tính đồng bộ và khả thi. Việc này sẽ giúp tạo ra một khung pháp lý rõ ràng cho các hoạt động nghệ thuật, từ đó thúc đẩy sự phát triển của ngành.

3.2. Tăng Cường Đào Tạo Và Nâng Cao Năng Lực Quản Lý

Đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước là cần thiết. Điều này giúp họ có thể đáp ứng tốt hơn với các yêu cầu và thách thức trong quản lý BDNT, từ đó nâng cao chất lượng quản lý.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Về Quản Lý Nghệ Thuật Biểu Diễn

Nghiên cứu về quản lý BDNT đã chỉ ra nhiều ứng dụng thực tiễn có thể áp dụng để cải thiện tình hình hiện tại. Các mô hình quản lý từ nước ngoài có thể được tham khảo và điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

4.1. Kinh Nghiệm Quản Lý Từ Các Quốc Gia Khác

Nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Trung Quốc đã có những mô hình quản lý BDNT hiệu quả. Việc học hỏi từ những kinh nghiệm này có thể giúp Việt Nam cải thiện quản lý nghệ thuật biểu diễn.

4.2. Đánh Giá Kết Quả Quản Lý Nghệ Thuật Hiện Nay

Đánh giá kết quả quản lý BDNT hiện nay cho thấy cần có sự thay đổi trong cách tiếp cận và thực hiện. Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng nghệ thuật mà còn góp phần phát triển kinh tế văn hóa.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Quản Lý Nhà Nước Đối Với Biểu Diễn Nghệ Thuật

Kết luận về quản lý nhà nước đối với BDNT cho thấy cần có những bước đi mạnh mẽ hơn trong việc cải cách và đổi mới. Tương lai của BDNT phụ thuộc vào sự quan tâm và đầu tư đúng mức từ phía nhà nước và xã hội.

5.1. Tương Lai Của Nghệ Thuật Biểu Diễn Ở Việt Nam

Nghệ thuật biểu diễn ở Việt Nam có tiềm năng phát triển lớn. Tuy nhiên, để đạt được điều này, cần có sự hỗ trợ từ chính sách và các chương trình phát triển cụ thể.

5.2. Định Hướng Phát Triển Quản Lý Nghệ Thuật Biểu Diễn

Định hướng phát triển quản lý BDNT cần phải linh hoạt và thích ứng với sự thay đổi của xã hội. Việc này sẽ giúp nghệ thuật biểu diễn phát triển bền vững và đáp ứng nhu cầu của công chúng.

09/07/2025
Quản lý nhà nước đối với biểu diễn nghệ thuật ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu trong nước Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến QLNN về văn hóa nói chung và BDNT nói riêng được tổng hợp và phân tích dựa trên những thay đổi của pháp luật. Do đó, các công trình nghiên cứu này được chia thành hai giai đoạn đó là: (1) giai đoạn từ 1992 đến 2012 là giai đoạn mà nhà nước ta bước đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường, đất nước ta bước vào giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa, văn hóa nói chung và biểu diễn nghệ thuật nói riêng không chỉ ảnh hưởng bởi những thay đổi của điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội trong nước. (2) giai đoạn từ 2012 đến nay là giai đoạn Nhà nước khẳng định rõ mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền con người.

Hiến pháp 2013 lần đầu tiên quy định quyền con người. Do đó, luận án đánh giá tình hình nghiên cứu hoạt động QLNN đối với văn hóa nói chung và BDNT nói riêng dựa trên việc phân chia thành các giai đoạn để từ đó là tiền đề đánh giá thực trạng pháp luật và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật QLNN đối với BDNT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Các công trình nghiên cứu giai đoạn từ năm 1992 - 2012 1. Các công trình sách, tạp chí xuất bản Giai đoạn 1992 đến 2012 là giai đoạn đất nước ta đẩy mạnh hoạt động giao lưu thương mại, bình thường hóa quan hệ với các quốc gia như Mỹ và đẩy mạnh quan hệ hợp tác, thu hút đầu tư.

Tại Việt Nam, có nhiều cuốn sách thống kê, tổng hợp về lịch sử ra đời, nội dung cơ bản các học thuyết quản lý như: Năm 2001, trên tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, tác giả Lương Hồng Quang có bài Quản lý văn hóa nghệ thuật, tổng thuật từ cuốn “Management and the Arts của W. Trong tổng thuật này, tác giả đã giới thiệu cho người đọc nhiều vấn đề có tính nguyên lý rất quan trọng trong quản lý văn hóa như: Khái niệm quản lý, nhà quản lý, cấp độ quản lý, tiến trình quản lý, kinh tế học và nghệ thuật, marketing, gây quỹ…. Đây là các vấn đề lý luận mới, quan trọng và cần thiết đối với hoạt động quản lý văn hóa nghệ thuật của nước ta trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay. Cũng nhằm mục đích cung cấp 8 Byrnes, W.J (2009), Management anh the Arts (Quản lý và nghệ thuật), 4th edition), Focal Press, London.

10 những kiến thức vấn đề cơ quan quản lý văn hóa nghệ thuật theo thực tiễn của các nước Âu - Mỹ, tập tài liệu Nhập môn Quản lý Văn hóa nghệ thuật do Lương Hồng Quang và Đỗ Thị Thanh Thủy dịch năm 20049. Nội dung gồm 7 chương, trong đó có những phần đề cập đến lịch sử quản lý, các trường phái khác nhau theo các thời kỳ lịch sử, các vấn đề như người lãnh đạo, nhân lực trong quản lý, kinh tế và nghệ thuật, quản lý tài chính…. Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận quản lý văn hóa trong thời kỳ đổi mới” (1996)10 đã bàn di sản văn hóa. Công trình lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới của tác giả Nguyễn Duy Bắc11 đã tuyển chọn các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo chính trị và bài viết của nhiều nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước (Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu…) xây dựng, phát triển văn học nghệ thuật, cùng các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu như Hồ Sĩ Vịnh, Nguyễn Duy Bắc, Phạm Duy Đức, Phan Cự Đệ, Trần Văn Bính, Từ Sơn, Trần Đình Sử đưa đến nhiều góc độ, nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh chủ đề lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới.

Cuốn sách: “Văn học, nghệ thuật trong cơ chế thị trường và hội nhập” của Hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương (2008) đã đề cập đến những vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách trong đời sống văn học, nghệ thuật nước ta hiện nay, cho thấy rõ những bước tiến, những thành tựu đã đạt được, những thách thức, trăn trở, những việc cần phải làm, phải rút kinh nghiệm. để văn học, nghệ thuật phát triển xứng đáng với dân tộc và thời đại. Trong cuốn này có một số bài viết của những nhà lý luận cũng như những nhà hoạt động thực tiễn lĩnh vực NTBD. Trong đó phải kể đến bài viết của nghệ sĩ nhân dân Chu Thúy Quỳnh (Chủ tịch Hội nghệ sĩ Múa Việt Nam): “Nghệ thuật biểu diễn trong cơ chế thị trường và hội nhập”.

Ở bài viết này, tác giả đã đề cập đến yêu cầu văn hóa nghệ thuật phục vụ xã hội, nhu cầu hưởng thụ ngày càng nhiều, làm thế nào để NTBD đi vào nền kinh tế thị trường được phát huy. Theo tác giả, cần phải XHH các bộ môn nghệ thuật lâu dài trong kinh tế thị trường, đây là điều rất nên và có tính khả thi. Ngoài ra, tác giả còn lưu ý đến vấn đề hội nhập và cho rằng đây là sách lược đúng đắn để học tập, tự khẳng định nghệ thuật nước nhà trước xu thế toàn cầu hóa, hội nhập mạnh mẽ. Một số bài viết khác như: “Sân khấu Việt Nam đương đại - bức tranh nhiều màu 9 Lương Hồng Quang, Đỗ Thị Thanh Thủy (2004), Nhập môn Quản lý Văn hóa nghệ thuật, Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt Nam.

10 Nhà xuất bản chính trị quôc gia, 2006. 11 Nguyễn Duy Bắc (T.c) (2001), Về lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật trong công cuộc đổi mới, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 11 nhưng không đậm nét” của NSƯT Lê Chức (Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam), “ tình hình âm nhạc hiện nay và những vấn đề bức xúc đang tồn tại” của Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân (Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam).

đã góp phần vẽ lên bức tranh thực trạng NTBD ở nước ta hiện nay. Cuốn “Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do Nguyễn Chí Bền làm chủ biên (2010)12 đã phác họa bức tranh toàn cảnh nền văn hóa Việt Nam theo dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại với mọi mặt của đời sống văn hóa, xã hội; đề cập đến hiện trạng và những tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đối với các thành tố của nền văn hóa dân tộc. Tác giả cho thấy trong bối cảnh đa dạng văn hóa như hiện nay, sự đối thoại giữa các nền văn hóa nhiều khi đóng vai trò quan trọng. Quá trình giao lưu văn hóa cần tính đến những giá trị chung, giá trị nhân loại, đồng thời thừa nhận cái khác biệt của quốc gia khác để các dân tộc khác thừa nhận cái khác biệt của Việt Nam.

Bài viết “Tổ chức nghệ thuật và vấn đề quản lý tài chính” (2004) của tác giả Lương Hồng Quang hay bài “ngành quản lý văn hóa” (2009) của tác giả Phạm Bích Huyền, cũng đề cập quản lý tài chính là nhiệm vụ quan trọng đối với nhà quản lý trong tổ chức nghệ thuật, đồng thời phân tích điểm giống và khác nhau trong quản lý tài chính của tổ chức lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận trong các tổ chức nói chung và tổ chức nghệ thuật nói riêng. Bài viết “Quản lý văn hóa ở một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” của tác giả Bùi Hoài Sơn, Phan Hồng Giang (2011).13 Bài viết đã tập trung phân tích kinh nghiệm quản lý văn hóa ở một số quốc gia như Vương Quốc Anh, Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc qua đó đề xuất một số kiến nghị cho Việt Nam như cần phải định hướng hoạt động văn hóa đi vào chiều sâu, tránh tình trạng phân tán không hiệu quả, cần tăng cường chính sách bảo hộ và chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa, cần nâng cao công tác đào tạo nhân lực QLVH. Các công trình nghiên cứu khác Ngoài các hình thức được xuất bản, thì còn có một sô công trình nghiên cứu liên quan đến BDNT và QLNN đối với BDNT được thực hiện các hình thức hội thảo, đề tài nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ. Liên quan trực tiếp đến nội dung của đề tài này, có một số công trình nghiên cứu cụ thể sau đây: Đề tài nghiên cứu cấp bộ Các giải pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển thị trường văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế (2005) do Đinh Thị Vân Chi 12 Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành tháng 9-2010.

13 Tạp chí Cộng sản, số 819 (1-2011), Tạp chí Cộng sản, số 819 (1-2011). 12 làm chủ nhiệm. Với mục tiêu chính là đánh giá hiện trạng QLNN đối với thị trường văn hóa, phân tích nguyên nhân của những mặt hạn chế yếu kém, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp QLNN nhằm phát triển thị trường văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Đề tài khoa học cấp bộ “Cơ chế tự chủ tài chính cho hoạt động biểu diễn nghệ thuật và xã hội hóa hoạt động biểu diễn nghệ thuật nhìn từ góc độ tài chính” (2001) của nhóm tác giả Nguyễn Danh Ngà, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Minh Linh của Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du Lịch đã tìm hiểu những kinh nghiệm đầu tư ngân sách vào quản lý tài chính ở một số nước trên thế giới: Anh, Mỹ, Pháp, Trung Quốc… để phân tích đặc điểm của hoạt động BDNT trong nền kinh tế thị trường, trong đó nhấn mạnh việc đầu tư ngân sách nhà nước và quản lý tài chính đối với hoạt động BDNT là khách quan và tất yếu.

Hội thảo khoa học do Cục nghệ thuật biểu diễn tổ chức bao gồm rất nhiều chủ đề như: Hội thảo khoa học năm 2006 của Cục nghệ thuật biểu diễn: “Thực trạng và giải pháp phát triển Nghệ thuật biểu diễn”; Hội thảo “Hoạt động xã hội hóa sân khấu trong giai đoạn hiện nay tại Tp. Hồ Chí Minh”; Hội thảo khoa học năm 2012 của Cục nghệ thuật biểu diễn “Thực trạng và giải pháp phát triển Nghệ thuật biểu diễn”; Hội thảo khoa học “Hoạt động XHH sân khấu trong giai đoạn hiện nay”. Hội thảo khoa học “giải pháp phát triển nghệ thuật biểu diễn” do Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ VHTTDL) tổ chức đã khai mạc tại Hà Nội năm 2006. Các tham luận của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và nghệ sĩ biểu diễn đã tập trung vào việc phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động XHH nghệ thuật trong những năm qua, những tồn tại và đòi hỏi trong nhiều mặt của NTBD: đào tạo, nghệ sĩ biểu diễn, tác phẩm, công chúng và vai trò cuả các nhà quản lý.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Quản Lý Nhà Nước Đối Với Biểu Diễn Nghệ Thuật Ở Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình quản lý nhà nước đối với lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật tại Việt Nam. Tài liệu phân tích thực trạng hiện tại, những thách thức mà ngành nghệ thuật đang phải đối mặt, và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý. Độc giả sẽ nhận được những thông tin quý giá về cách thức mà chính phủ có thể hỗ trợ và phát triển nghệ thuật, từ đó góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

Ngoài ra, để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Hệ thống thủy vân số và ứng dụng thủy vân số trong bảo vệ bản quyền ảnh số 1. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các công nghệ bảo vệ bản quyền trong lĩnh vực nghệ thuật số, một khía cạnh quan trọng trong việc quản lý và phát triển nghệ thuật hiện đại.