Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và bài học thực tiễn về QLNN về kinh tế, thương mại vận dụng đối với BHTT ở Việt Nam. Chương 3: Thực trạng QLNN đối với BHTT ở Việt Nam. Chương 4: Quan điểm, định hướng và một số giải pháp hoàn thiện QLNN đối với BHTT ở Việt Nam đến năm 2030. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.
MỘT SỐ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QLNN ĐỐI VỚI BHTT 1. BHTT và phát triển BHTT Nghiên cứu về BHTT có nhiều cách hiểu khác nhau. Trong lĩnh vực TMĐT Laudon và Traver (2019) cho rằng BHTT là "quá trình mua bán hàng hóa và dịch vụ qua internet" có nghĩa mọi giao dịch mua bán diễn ra trên các nền tảng kỹ thuật số như trang web TMĐT, ứng dụng di động và các công cụ trực tuyến khác.com, BHTT là "hoạt động bán hàng hóa hoặc dịch vụ qua Internet". Tờ The Economic Times (2006) bổ sung rằng "khi bạn mua hoặc bán sản phẩm hoặc dịch vụ qua Internet thay vì tại cửa hàng truyền thống, đó được gọi là mua bán trực tuyến." Tương tự, Hasslinger và cộng sự (2007) định nghĩa BHTT là "quá trình người tiêu dùng mua hàng hóa hoặc dịch vụ qua mạng Internet.
Tóm lại, các khái niệm này đều nhấn mạnh rằng BHTT là hình thức "mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ thông qua mạng Internet," đôi khi còn được gọi là "bán hàng qua mạng" (Lui, 2012). BHTT có đặc trưng là giao dịch qua các cửa hàng ảo/gian hàng trực tuyến trên các phương tiện điện tử như website, sàn giao dịch TMĐT, Facebook, Zalo…(Kolesar và Galbraith, 2000; Lester và cộng sự, 2005). Các cửa hàng trực tuyến này hoạt động liên tục 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần (Abbad và cộng sự, 2011) nên khách hàng có thể mua sắm bất cứ khi nào (Lester và cộng sự, 2005). Khi muốn mua một sản phẩm nào đó, khách hàng chỉ việc lựa chọn bằng cách nhấp chuột vào sản phẩm đó và sản phẩm sẽ được chuyển đến địa chỉ do khách hàng định sẵn (Yörük và cộng sự, 2011).
Hàng hóa tại các cửa hàng này thường được mô tả bằng văn bản, hình ảnh, âm thanh, video (Kolesar và Galbraith, 2000). Do đó, khách hàng chỉ có thể cảm nhận, đánh giá sản phẩm thông qua các thông điệp (dưới dạng: hình ảnh, văn bản, âm thanh, video) mà người bán đăng tải trên các website chứ không thể đánh giá bằng các giác quan theo cách thông thường như trong bán hàng truyền thống nên các giao dịch bán hàng trong môi trường trực tuyến rủi ro hơn so với bán hàng truyền thống (Laroche và cộng sự, 2005). Thông tin trên các phương tiện điện tử như website, sàn giao dịch TMĐT, Facebook, Zalo… thường rất đa dạng và phong phú, từ thông tin của nhà sản xuất, người bán đến các bình luận, đánh giá, xếp hạng… của khách hàng (Hennig-Thurau và Walsh, 2003; Lepkowska-White, 2013). Những thông tin này rất hữu ích với khách hàng bởi vì nó giúp khách hàng có cái nhìn đa chiều về sản phẩm họ định mua (Chatterjee, 2001; Clemons và cộng sự, 2006).
Rất nhiều khách hàng tham khảo những thông tin đánh giá này trước khi ra quyết định mua sắm trực tuyến (ADMA, 2020). Hơn nữa, do quá trình BHTT được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử như website, 8 sàn giao dịch TMĐT, Facebook, Zalo… nên khách hàng có thể truy cập nhiều gian hàng tại cùng một thời điểm (Nguyễn Thành Độ và Hà Ngọc Thắng, 2014). Do đó, họ dễ dàng tìm được sản phẩm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của mình và tìm được nhà phân phối với giá rẻ nhất (Lester và cộng sự, 2005). BHTT trên thế giới rất phát triển đặc biệt ở khu vực Châu Á như ở Trung Quốc nhờ sự phát triển nhanh chóng của CNTT và Internet, các hoạt động mua sắm trực tuyến tại Trung Quốc đã diễn ra rất sôi nổi và phát triển với một tốc độ phi thường.
Theo Rong Li et al. (2007) nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến chính là sự tin tưởng dẫn đến hành động mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng Trung Quốc. Thành công BHTT ở Trung quốc theo tác giả Jin, B. (2014) do các yếu tố chiến lược giá cả, dịch vụ khách hàng, logistics và giao hàng, quản lý quan hệ khách hàng, nó giúp các DN cạnh tranh trong một thị trường đông đúc và tạo tăng trưởng lâu dài.
Thái Lan được coi là một trong những quốc gia ứng dụng Internet vào các lĩnh vực hoạt động kinh doanh xã hội sớm nhất tại châu Á và BHTT đã trở thành hoạt động phổ biến chỉ sau các hoạt động như sử dụng e-mail, tin nhắn hay lướt web (Ma Mengli, 2011). Ở hai thị trường Hàn Quốc và Mỹ, tác giả Joongho Ahn et al., (2001) đã xây dựng mô hình chấp nhận sử dụng TMĐT E-Cam (E-commerce Adoption Model) bằng cách tích hợp mô hình TAM của Davis Fred D.(1986) với thuyết rủi ro TPR (Bauer, R. Mô hình này cho thấy các yếu tố tác động đến việc chuyển đổi từ người sử dụng Internet thành người tiêu dùng tiềm năng của từng vùng văn hóa khác nhau có sự khác biệt. Trong nghiên cứu của Mihra, Sita (2014) đã sử dụng mô hình lý thuyết hành vi dự định của Ajzen, I.
(1991) để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định và hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng Ấn Độ. Salehi, Mehrdad (2012) đã tiến hành nghiên cứu hành vi mua hàng của người tiêu dùng đối với các cửa hàng trực tuyến ở Malaysia chỉ ra rằng năm yếu tố đầu tiên (xuất hiện, tải nhanh, bảo mật, sơ đồ trang web, tính hợp lệ) ảnh hưởng đến người tiêu dùng đối với mua sắm trực tuyến và bảo mật là yếu tố góp phần nhiều nhất vào mua sắm trực tuyến. Các nghiên cứu liên quan đến QLNN về kinh tế và thương mại Tác giả Đỗ Hoàng Toàn, Mai Văn Bưu (2018) cho rằng QLNN “là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và các mục tiêu đã xác định trong từng giai đoạn phát triển của đất nước”. Đối với tác giả Phan Huy Đường (2017) cho rằng “QLNN về kinh tế là sự tác động có tổ chức, có mục đích của Nhà nước lên hoạt động kinh tế (đối tượng và khách thể hoạt động kinh tế) để sử dụng hiệu quả tiềm năng, các nguồn lực, các cơ hội nhằm đạt được mục tiêu trước mắt và lâu dài của nền kinh tế xã hội”.
Còn Nguyễn Tiến Thao (2020) cho rằng “QLNN về kinh tế là 9 sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đề ra, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế”. QLNN tốt hay chưa tốt là việc thực hiện các chức năng nhà nước đã được hiến định tốt hay chưa tốt (Đỗ Hoàng Toàn, Mai Văn Bưu, 2018) va nếu phân lập theo từng giai đoạn tác động thì nhà nước có các chức năng hoạch định phát triển, chức năng tổ chức điều hành nền kinh tế; chức năng kiểm soát sự phát triển kinh tế. Theo Hà Trọng Nghĩa (2021), nội dung cơ bản của QLNN (về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức) gồm: thực hiện quy hoạch, kế hoạch; xây dựng, ban hành và triển khai thể chế; xây dựng ban hành và triển khai chính sách; tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng; kiểm tra giám sát hoạt động đào tạo, bồi dưỡng. Vũ Thị Hồng Phượng (2021) cho rằng tính mới của nội dung QLNN là xuất phát từ các yếu tố của thị trường đó là quản lý cung, cầu thị trường, giá cả và cạnh tranh.
Vũ Lan Hương (2022) cho rằng, nội dung QLNN (về phát triển du lịch) gồm có tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển; xây dựng và thực hiện các văn bản pháp luật; tổ chức bộ máy nhà nước; quản lý thu hút đầu tư và xúc tiến thương mại; tổ chức kiểm tra, giám sát các hoạt động phát triển. Theo Lâm Đình Tuấn Hải (2022), các nội dung QLNN đối với nguồn nhân lực mà tác giả đề cập đến là xây dựng quy hoạch, kế hoạch; ban hành chính sách pháp luật và chính sách; tổ chức bộ máy và công tác kiểm tra, giám sát. Trong lĩnh vực thương mại, Thân Danh Phúc và Hà Văn Sự (2015) cho rằng QLNN về thương mại là một phần quan trọng của QLNN về kinh tế. Đây là quá trình mà các cơ quan quản lý vĩ mô tác động có tổ chức và có mục tiêu đến các hoạt động thương mại, thông qua việc sử dụng các công cụ và chính sách quản lý nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể trong bối cảnh kinh tế - xã hội xác định.
Quá trình QLNN về thương mại bao gồm bốn chức năng cơ bản: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát, giúp đảm bảo các hoạt động thương mại diễn ra trong khuôn khổ và phù hợp với định hướng phát triển chung. Các cơ quan quản lý đóng vai trò then chốt trong việc ra quyết định, điều hành và tạo ra những tác động cần thiết đến DN, tổ chức và cá nhân tham gia vào hoạt động thương mại trên các thị trường trong và ngoài nước. Thông qua các hoạt động này, Nhà nước không chỉ điều chỉnh và hỗ trợ mà còn định hướng sự phát triển của thị trường thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu. Các luận án QLNN về thương mại cũng đa dạng nhiều lĩnh vực với các nội dung quản lý theo quá trình, theo công cụ và hỗn hợp.
Nguyễn Minh Tuân (2012), nội hàm về QLNN (về phát triển nông nghiệp công nghệ cao đối với chính quyền cấp tỉnh và tại Hà Nội) là việc xây dựng các quy hoạch, chương trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao; xây dựng các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao; tổ chức 10 triển khai thực hiện các quy hoạch, chương trình, chính sách về phát triển nông nghiệp công nghệ cao và giám sát, kiểm tra việc thực hiện các quy hoạch, chương trình, chính sách.