MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày này, thế giới đã và đang bước vào xã hội thông tin với tốc độ phát triển nhanh chóng bởi các thành tựu khoa học và công nghệ (KH&CN) mang lại, trong đó đặc biệt là thành tựu của khoa học công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT & TT). Trong xã hội mới hiện đại này, thông tin/tri thức là động lực, là nguồn lực phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Thông tin/tri thức - thành tựu KH&CN đã thẩm thấu vào lực lượng sản xuất trực tiếp là công cụ lao động và nhân lực lao động.
Nhờ đó con người đã được giải phóng sức lao động chân tay, lao động cơ bắp nhờ công cụ lao động được cải tiến, đưa đến các quá trình sản xuất tự động hóa, hiện đại hóa mang lại hiệu quả sản xuất xã hội ngày càng cao. Để có thành tựu KH&CN, cần phải có chiến lược quản lý nhân lực - bởi chỉ có con người/nhân lực mới có thể tiếp thu thành tựu KH&CN tiên tiến trên thế giới và sáng tạo các thành tựu/tri thức mới. Với ý nghĩa như vậy, ngay từ khi con người xuất hiện, thì vấn đề tổ chức xã hội, quản lý con người cũng đồng thời xuất hiện. Xã hội càng phát triển thì việc quản lý con người càng được đặc biệt chú trọng.
Đối với mỗi quốc gia, dân tộc, nguồn nhân lực (NNL) luôn là trung tâm, được đặt vị trí hàng đầu trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Có thể nói, mọi hoạt động là để phục vụ cho đời sống vật chất và tinh thần của con người là nhân tố quyết định chất lượng, hiệu quả của bất kì hoạt động hay quá trình vận động nào. Vì vậy, ngày nay trong xã hội hiện đại, quản lýnguồn nhân lực (QL NNL) có tầm quan trọng đặc biệt đối với mỗi quốc gia. Nguồn nhân lực là động lực, là nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội về chất.
Chất lượng NNL là nền tảng xây dựng một tổ chức, một quốc gia phát triển bền vững. Ở Việt Nam, trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước đã xác định cùng với KH&CN, giáo dục & đào tạo (GD&ĐT) là quốc sách hàng đầu. Điều này thể hiện Đảng & Nhà nước đã rất coi trọng nguồn nhân lực, chỉ có NNL chất lượng cao mới có thể tiếp thu được thành tựu KH&CN tiên 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiến và đồng thời chính họ còn là ”máy cái” đẻ ra tri thức KH&CN mới. Điều đó có nghĩa là muốn có thành tựu KH&CN cần phải có con người có trình độ cao.
Chỉ có như vậy, Việt Nam mới có thể đi tắt đón đầu KH&CN tiên tiến trên thế giới trong đó có ngành Thông tin - Thư viện (TT-TV). Để có thể phát triển KH&CN, GD&ĐT thì một trong những yếu tố không thể thiếu đó là thông tin/tài liệu. Để có thể đảm bảo thông tin/tài liệu đáp ứng được nhu cầu của mọi đối tượng khác nhau trong xã hội, ngành TT-TV nói chung và nguồn nhân lực TT-TV nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng. NNL TT-TV là một trong những yếu tố quyết định chất lượng của các sản phẩm và dịch vụ thông tin cung ứng nhu cầu của NDT.
NNL TT-TV có vị trí trung gian, là cầu nối giữa nguồn lực thông tin (NLTT) với người dùng tin (NDT). Do vậy, cùng với chất lượng nội dung NLTT, cơ sở vật chất hạ tầng công nghệ, trình độ của NDT thì năng lực của NNL TT-TV là yếu tố hàng đầu quyết định mức độ hiệu quả của hoạt động thông tin - thư viện (TT-TV). Vấn đề đặt ra và đòi hỏi phải được xử lý tốt chính là việc phải tổ chức, quản lý và phát triển NNL TT-TV như thế nào trên bình diện quốc gia và trong từng cơ quan TT-TV cụ thể để có thể tổ chức được một đội ngũ người làm công tác TT-TV có năng lực quản trị thông tin, đáp ứng nhu cầu thông tin ngày phức tạp của NDT. Nhà quản lý NNL tại mỗi cơ quan, tổ chức cụ thể phải nắm bắt được thực trạng NNL của mình, nghiên cứu vận dụng hoặc sáng tạo những mô hình, phương pháp, kỹ thuật phù hợp nhằm tổ chức, khai thác tối đa những tiềm năng của NNL, tạo môi trường làm việc, tạo động cơ và hứng thú làm việc cho đội ngũ, giảm thiểu rủi ro, hạn chế những điểm yếu để tạo nên sức mạnh tổng thể cho NNL, từ đó hoàn thành được nhiệm vụ, chức năng của tổ chức ở mức độ cao nhất.
Học viện Ngân hàng (HVNH) gồm trụ sở chính tại Hà Nội và các phân viện, cơ sở đào tạo ở 3 địa điểm khác. Tại mỗi đơn vị đều có thư viện, trong đó, Trung tâm TT-TV tại trụ sở có nhiệm vụ chủ quản về chuyên môn, chịu trách nhiệm và điều phối hoạt động chuyên môn của toàn bộ các thư viện của Học viện. Theo đó, NNL TT-TV của HVNH được quản lý tập trung theo chuyên môn nhưng phân tán 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com theo đơn vị hành chính. Điều này rất dễ gây ra sự chồng chéo trong phân nhiệm chức năng quản lý và phức tạp trong đánh giá hiệu quả của mỗi thư viện và từng nhân sự.
Đặc biệt, để Trung tâm thực hiện tốt nhiệm vụ đầu mối trong hoạt động TT- TV của Học viện, chịu trách nhiệm về chất lượng hoạt động chuyên môn của các thư viện thành viên thì đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viên của Trung tâm phải đạt được trình độ, kỹ năng đảm bảo hoạt động tốt tại Trung tâm đồng thời hỗ trợ các đơn vị thư viện thành viên thực hiện nhiệm vụ theo nguyên tắc chung để đạt được hiệu quả cho toàn bộ hệ thống TT-TV của HVNH. Đây là một bài toán khó, đòi hỏi phải không ngừng nghiên cứu, tìm tòi, thử nghiệm, áp dụng những kiến thức, kinh nghiệm tốt. Đồng thời đây cũng chính là những trăn trở của đội ngũ cán bộ quản lý các cấp của HVNH nói chung và cá nhân tác giả nói riêng trong công tác QL NNL TT-TV. Chính vì vậy, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “Quản lý nguồn nhân lực thông tin - thƣ viện của Học viện Ngân hàng” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp với mong muốn đưa ra các giải phápcó tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NNL góp phần nâng cao chất lượng hoạt động trong việc đáp ứng nhu cầu tin cho cán bộ, giảng viên và sinh viên của HVNH trong nghiên cứu khoa học và đào tạo.
Tình hình nghiên cứu theo hƣớng đề tài Hệ thống cơ sở lý luận, các nội dung về QL NNL nói chung và QL NNL nói riêng được nghiên cứu bởi nhiều nhà khoa học, nhà quản lý trong và ngoài nước. Về hệ thống cơ sở lý luận, phương pháp, mô hình quản lý NNL: Tác giả luận văn đi từ nghiên cứu tài liệu về khoa học quản lý, khoa học QL NNL đến khoa học QL NNL TT-TV. Trước hết các công trình đã nghiên cứu về khái niệm quản lý và quản trị: Các công trình như: Khoa học quản lý của PGS. Nguyễn Cảnh Hoan, xuất bản năm 2006 [12], Quản trị học của tác giả Phan Thăng, xuất bản năm 2007 [40]; Khoa học quản lý của TS.
Nguyễn Đức Lợi, xuất bản năm 2008 [16]. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các công trình đã nghiên cứu về quản lý, quản trị nguồn nhân lực: Có các công trình như “Quản trị nguồn nhân lực’của PGS. Trần Thị Kim Dung, xuất bản năm 2011 [5],“Quản trị nguồn nhân lực trong tổ chức”của GS. Nguyễn Ngọc Quân, xuât bản năm 2012 [31];“Quản lý nguồn nhân lực trong các tổ chức công’của PGS.Trần Thị Thu, PGS.
Vũ Hoàng Ngân,2013 [42], “Quản trị nguồn nhân lực”của PGS. Trần Xuân Hải, TS. Trần Đức Lộc, 2013 [10], … Các công trình đã đề cập đến một số khái niệm khác nhau về quản lý nguồn nhân lực (QL NNL) nhưng có sự tương đồng về xác định mục tiêu, chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, phương thức QL NNL của tổ chức. Các tài liệu trình bày hệ thống khái niệm, hướng dẫn cụ thể, rõ ràng các kỹ thuật nghiệp vụ của từng khâu, có những minh họa các tình huống điển hình của QL NNL.
Các công trình nghiên cứu về quản lý nguồn nhân lực thông tin - thư viện: Có các công trình như: “Quản lý nguồn nhân lực trong thư viện đại học”- Human Resource Management in Academic Libraries của Sandeep Sharma, xuất bản năm 2012; Các công trình của PGS. Tràn Thị Quý:“Nguồn nhân lực trong các cơ quan thông tin - thư viện đại học trên địa bàn Hà Nội: thực trạng và giải pháp”, đề tài đực biệt/cấp bộ năm 2011;“Quản lý nguồn nhân lực thông tin - thư viện”, bài giảng của PGS. Trần Thị Minh Nguyệt [29].“Nhân lực thông tin - thư viện trong xã hội thông tin và xã hội tri thức” [8], TS. Chu Ngọc Lâm; Luận văn “Nguồn nhân lực thông tin - thư viện của một số cơ sở đào tạo đại học thuộc Bộ Công an trên địa bàn Hà Nội” ThS.
Nguyễn Thị Hồng Loan [22]; “Phát triển nguồn nhân lực thông - tin thư viện của mạng lưới các trường đại học tại Hà Nội’ cuả ThS. Nguyễn Thanh Trà [46], “Nguồn nhân lực thông tin - thư viện của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, thực trạng và giải pháp” của ThS. Trịnh Văn Bằng; “Vài suy nghĩ về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành thông tin - thư viện trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Thị Thúy Hạnh [11], ThS. Trần Thị Kiều Hương “Phát triển nguồn nhân lực thông tin - thư viện đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác đào tạo tại Đại học Ngoại thương” [17], Trương Đại Lượng“Đội ngũ cán bộ thư viện tham gia đào tạo kiến thức thông tin tại một số thư viện đại học ở Việt 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nam: thực trạng và giải pháp” [24], “Khả năng đáp ứng yêu cầu nghề của đội ngũ cán bộ, nhân viên đang công tác trong các cơ quan thông tin - thư viện” của Nguyễn Thị Hồng Thương [45].
Các công trình nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực thông tin - thư viện: Một nhóm các công trình của PGS.Trần Thị Quý như như: “Đào tạo nguồn nhân lực thư viện số cho các thư viện đại học Việt Nam’ [34].