Phần mở đầu - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp - Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Thực trạng quản lý nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần công nghê ̣ viê ̣t toàn cầ u. - Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm tăng cƣờng quản lý nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần cổ phần công nghê ̣ viê ̣t toàn cầ u. - Kết luận - Danh mục tài liệu tham khảo 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận và tổng quan về quản lý nguồn nhân lực.1 Khái niệm nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực - Khái niệm nguồn nhân lực Tổ chức, doanh nghiệp đƣợc tạo thành bởi các thành viên là con ngƣời hay nguồn nhân lực của nó.
Tài nguyên nhân sự gắn liền với mọi tổ chức có thể là một hãng sản xuất, công ty bảo hiểm, cơ quan nhà nƣớc, bệnh viện, viện đại học, liên đoàn lao động, nhà thờ, hãng hàng không… tổ chức đó dù lớn hay nhỏ, đơn giản hay phức tạp. Nguồn nhân lực chính là nguồn lực về con ngƣời. Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời bao gồm cả thể lực và trí lực : sức khỏe, suy nghĩ, sự hiểu biết, tài năng, quan điểm, nhân cách… của con ngƣời. Thể lực và trí lực của con ngƣời là kho tàng còn nhiều tiềm năng chƣa đƣợc khai thác và cần đƣợc khai thác một cách hiệu quả.
Nguồn nhân lực là một trong những tài sản quan trọng nhất của tổ chức, nó hiện diện ở khắp mọi nơi trong tổ chức từ nhân viên, trƣởng phòng, giám đốc, hội đồng thành viên, chủ tịch công ty… Nguồn nhân lực là nguồn lực duy nhất tạo ra giá trị lớn hơn giá trị bản thân và tạo ra sức mạnh vô cùng lớn cho tổ chức. Nhu cầu về nguồn nhân lực là nhu cầu sử dụng lao động cho các vị trí làm việc, công việc.Nguồn nhân lực của doanh nghiệp tƣơng ứng với số lƣợng và cơ cấu công việc của doanh nghiệp đó. Sự hòa hợp, thống nhất giữa nhu cầu công việc và nguồn nhân lực đƣợc thể hiện trên hai phƣơng diện : định lƣợng nghĩa là giải quyết các vấn đề biên 4 chế, cố gắng giảm thiểu tình trạng thừa hoặc thiếu lao động và định tính nghĩa là giải quyết các vấn đề về năng lực, động cơ làm việc cố gắng giảm thiểu tình trạng chuyên môn nghề nghiệp không phù hợp với công việc đƣợc giao. Khi nói đến nguồn nhân lực ngƣời ta thƣờng đề cập tới số lƣợng và cơ cấu của nguồn nhân lực tƣơng quan với cơ cấu về nghề và công việc của tổ chức.
Hay nói cách khác là sự phù hợp giữa cơ cấu nhân lực với cơ cấu nghề nghiệp và công việc của tổ chức. - Khái niệm quản lý nguồn nhân lực Quản lý nhân sự là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động họach định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân sự hoạt động thông qua tổ chức, nhằm đạt đƣợc mục tiêu chiến lƣợc và định hƣớng viễn cảnh của tổ chức. Trƣớc đây khi con ngƣời chƣa đƣợc coi là tài sản quan trọng nhất của tổ chức, việc quản lý nhân sự là quản lý con ngƣời về mặt hành chính : là hoạt động áp dụng các nguyên tắc về trả lƣơng, nghỉ phép, nghỉ lễ….nhằm mục đích quản lý bản thân và các cá nhân một cách tuyệt đối mà không hề tính đến nhu cầu của tổ chức cũng nhƣ nhu cầu của nhân viên. Khái niệm quản lý nguồn nhân lực mới xuất hiện từ những năm 1980 ở các nƣớc phát triển, ghi nhận vai trò mở rộng và cũng ghi nhận một cung cách quản lý mới thay đổi từ việc coi con ngƣời chỉ là lực lƣợng thừa hành, phụ thuộc cần khai thác tối đa ngắn hạn chuyển sang một cách quản lý mềm dẻo, linh hoạt hơn, tạo điều kiện để con ngƣời phát huy tính tích cực chủ động sáng tạ, vừa khai thác đƣợc năng lực tối đa của họ vừa có kế hoạch đầu tƣ dài hạn sao cho chi phí đƣợc sử dụng một cách tối ƣu.
Nhìn chung quản lý nhân lực hiện tại khác với quản lý nhân lực trƣớc đây ở chỗ : mục tiêu cơ bản của nó không phải là quản lý các cá nhân mà là 5 tìm cách đạt đƣợc sự hòa hợp thỏa đáng giữa nhu cầu của một tổ chức và nguồn nhân lực của tổ chức đó. Khi nói về quản lý nguồn nhân lực các nhà quản lý thƣờng thống nhất đƣa ra một số nhận định nhƣ sau : Quản lý nguồn nhân lực là công cụ của lãnh đạo tổ chức để đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức Quản lý nguồn nhân lực là chính sách và biện pháp sử dụng, phát triển một cách hiệu quả nguồn nhân lực của tổ chức, là phƣơng hƣớng quan trọng tạo động lực cho ngƣời lao động Quản lý nguồn nhân lực là sự phân công và hợp tác hiệu quả giữa những ngƣời lao động trong tổ chức Quản lý nguồn nhân lực là công cụ hiệu quả nhất để đảm bảo sự hài hòa lợi ích của tổ chức và của ngƣời lao động. Quản lý nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản lý và phát triển doanh nghiệp. Vai trò quan trọng của Quản lý nguồn nhân lực xuất phát từ vai trò quan trọng của “ Ngƣời lao động “ trong tổ chức.
Quản lý nguồn nhân lực chịu tác động của các nhân tố thuộc về môi trƣờng kinh doanh nói chung và môi trƣờng Quản lý nguồn nhân lực nói riêng. Môi trƣờng Quản lý nguồn nhân lực bao gồm môi trƣờng bên trong và môi trƣờng bên ngoài tổ chức. Môi trƣờng bên trong tổ chức bao gồm các nhân tố liên quan đến tổ chức nhƣ mục tiêu, sứ mệnh,chức năng của tổ chức, đặc điểm hoạt động của tổ chức, văn hóa của tổ chức, chiến lƣợc phát triển của tổ chức, cơ sở vật chất kỹ thuật của tổ chức, nguồn lực tài chính của tổ chức…. Môi trƣờng bên ngoài tổ chức bao gồm các nhân tố thuộc về cung và cầu nhân lực trên thị trƣờng lao động, phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc, 6 văn hóa, giáo dục, môi trƣờng luật pháp, sự phát triển của khoa học và công nghệ, hội nhập…vv.2 Vai trò của quản lý nguồn nhân lực Yếu tố giúp ta nhận biết đƣợc một xí nghiệp hoạt động tốt hay không hoạt động tốt, thành công hay không thành công chính là lực lƣợng nhân sự của nó- những con ngƣời cụ thể với lòng nhiệt tình và óc sáng kiến.
Mọi thứ còn lại nhƣ: máy móc thiết bị, của cải vật chất, công nghệ kỹ thuật đều có thể mua đƣợc, học hỏi đƣợc, sao chép đƣợc, nhƣng con ngƣời thì không thể. Vì vậy có thể khẳng định rằng quản lý nhân lực có vai trò thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp, quản lý nguồn nhân lực thuộc chức năng chính của nhà quản lý, giúp nhà quản lý đạt đƣợc mục đích thông qua nỗ lực của ngƣời khác. Các nhà quản lý có vai trò đề ra các chính sách, đƣờng lối, chủ trƣơng có tính chất định hƣớng cho sự phát triển của doanh nghiệp, do đó nhà quản lý phải là ngƣời biết nhìn xa trông rộng, có trình độ chuyên môn cao.
Ngƣời thực hiện các đƣờng lối chính sách mà nhà quản lý đề ra là các nhân viên thừa hành, kết quả công việc hoàn thành tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của nhân viên, vì vậy cho nên có thể nói rằng: “mọi quản lý suy cho cùng cũng là quản lý con ngƣời”. Quản lý nhân sự góp phần vào việc giải quyết các mặt kinh tế xã hội của vấn đề lao động. Đó là một vấn đề chung của xã hội, mọi hoạt động kinh tế nói chung đều đi đến một mục đích sớm hay muộn là làm sao cho ngƣời lao động hƣởng thành quả do họ làm ra. Quản lý nhân sự gắn liền với mọi tổ chức, bất kỳ một cơ quan tổ chức nào cũng cần phải có bộ phận nhân sự.
Quản lý nhân sự là một thành tố quan trọng của chức năng quản lý, nó có gốc rễ và các nhánh trải rộng khắp nơi trong mọi tổ chức. Quản lý nhân sự hiện diện ở khắp các phòng ban, bất cứ 7 cấp quản lý nào cũng có nhân viên dƣới quyền vì thế đều phải có quản lý nhân sự. Cung cách quản lý nhân lực tạo ra bầu không khí văn hoá cho một doanh nghiệp. Đây cũng là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của một doanh nghiệp Quản lý nguồn nhân sự có vai trò to lớn đối với hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, nó là hoạt động bề sâu chìm bên trong doanh nghiệp nhƣng lại quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài: Hiện nay, cả Việt Nam và trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu với quy mô và cách tiếp cận khác nhau về vấn QL NNL, cũng nhƣ những tác nhân liên quan tới vấn đề này. Cụ thể có thể nêu ra nhƣ sau: Nguyễn Thị Thu Phƣơng (2014), Quản lý nhân lực tại Công ty Cokyvina, Luận văn thạc sỹ, Trƣờng Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả luận văn đã làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý nhân lực trong DN; Phân tích, đánh giá công tác quản lý nhân lực tại Công ty Cokyvina, đặc biệt phát hiện ra những bất cập trong công tác này tại Cokyvina. Từ đó, luận văn đƣa ra đƣợc 1 số giải pháp nhằm tăng cƣờng quản lý nhân lực tại Công ty này giai đoạn 2014-2015, và đến năm 2020.
Lê Thị Mỹ Linh (2009), Phát triển nguồn nhân lực trong DN nhỏ và vừa ở Việt nam trong quá trình hội nhập kinh tế , Luận án tiến sỹ, Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân; Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng và giải pháp phát triển NNL tại các DNNVV trong môi trƣờng hội nhập kinh tế quốc tế; Đặc biệt, luận án phân tích rõ những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến NNL, cũng nhƣ công tác phát triển NNL trong DN vừa và nhỏ ở Việt nam. Lâm Thị Hồng (2012), Phát triển NNL tại Công ty Giầy Thựợng Đình. Luận văn thạc sỹ. Trƣờng Đại học Lao động - Xã hội.
Luận văn đánh giá thực trạng phát triển NNL tại Công ty Giầy Thƣợng Đình Hà Nội, chỉ ra những bất 8 cập trong quá trình phát triển và nguyên nhân của tình hình.