phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm có 3 nội dung chính: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng quản lý nguồn nhân lực tại VOSA Hải Phòng. Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nguồn nhân lực tại VOSA Hải Phòng. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Nguồn nhân lực của doanh nghiệp 1. Khái niệm nguồn nhân lực của doanh nghiệp Nguồn nhân lực là tài nguyên quan trọng và quý giá nhất để đánh giá tiềm lực phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mỗi vùng, ngành địa phƣơng, mỗi doanh nghiệp. Thuật ngữ nguồn nhân lực (hurman resourses) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX.
Nếu nhƣ trƣớc đây, phƣơng thức quản trị nhân viên (peronnel management) với các đặc trƣng coi nhân viên là lực lƣợng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay với phƣơng thức mới, quản lý nguồn nhân lực (hurman resourses management) với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để ngƣời lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua sự tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển. Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ “nguồn nhân lực” là một trong những biểu hiện cụ thể trong sự thay đổi nhận thức về tầm quan trọng của nguồn lực con ngƣời trong tổ chức, doanh nghiệp. Có rất nhiều khái niệm khác nhau đƣợc đƣa ra về nguồn nhân lực nhằm phù hợp với mục tiêu nghiên cứu và điều kiện thực tế của từng quốc gia. Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó [4].
Nguồn nhân lực hay nguồn lực lao động bao gồm tất cả những ngƣời trong độ tuổi lao động theo (quy định của pháp luật) có khả năng lao động (trừ những ngƣời tàn tật, mất sức lao động loại nặng) và những ngƣời ngoài độ tuổi lao động nhƣng thực tế đang làm việc [9]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguồn nhân lực của một tổ chức đƣợc hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục đích nhất định [9]. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp bởi chính bản chất của con ngƣời. Các nguồn lực khác của doanh nghiệp đều đƣợc nguồn lực con ngƣời điều khiển để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của chính bản thân doanh nghiệp do đó nguồn nhân lực đƣợc coi là yếu tố then chốt trong chiến lƣợc phát triển của doanh nghiệp.
Mỗi nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển và có khả năng đoàn kết làm việc theo nhóm, tổ, đội tạo nên hiệu quả cao trong công việc mà họ đảm nhận đồng thời họ liên kết lại để hình thành nên các tổ chức để bảo vệ quyền lợi của bản thân trong quá trình lao động sản xuất kinh doanh. Hiểu theo góc độ rộng hơn thì nguồn nhân lực chính là nguồn lực của con ngƣời bao gồm hai yếu tố chính là thể lực và trí lực [9]. Xét theo phạm vi hẹp hơn trong phạm vi một tổ chức thì nguồn nhân lực thể hiện ở số lƣợng và chất lƣợng ngƣời lao động đang làm việc trong tổ chức đó bất kể công việc mà họ đảm nhận là gì [9]. Mặc dù nguồn nhân lực đƣợc xét đến với nhiều khái niệm khác nhau nhƣng điểm chung của các khái niệm đều hƣớng tới sự thống nhất: nguồn nhân lực thể hiện khả năng lao động của xã hội.
Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay không thành công trong phát triển kinhtế - xã hội của một quốc gia, tổ chức, doanh nghiệp. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các yếu tố cơ bản của nguồn nhân lực của doanh nghiệp 1. Số lượng nguồn nhân lực Về số lƣợng, xét trong phạm vi một tổ chức thì: Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lƣợng lao động của từng doanh nghiệp, là số ngƣời có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lƣơng [4].
Chính sách phát triển, chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tác động tới số lƣợng nguồn nhân lực. Doanh nghiệp sẽ cần thêm ngƣời lao động nếu có nhu cầu mở rộng kinh doanh và ngƣợc lại, số lƣợng lao động sẽ bị cắt giảm nếu doanh nghiệp thu hẹp mô hình kinh doanh. Số lƣợng nguồn nhân lực cũng thƣờng biến động do một số ngƣời đang làm việc trong doanh nghiệp nhƣng lại có nhu cầu thuyên chuyển đi nơi khác, về hƣu, ốm đau, chết, tai nạn, bị kỷ luật buộc thôi việc. và doanh nghiệp cần bổ sung lao động từ thị trƣờng lao động bên ngoài.
Vì vậy doanh nghiệp phải dự đoán đƣợc cung nhân lực từ thị trƣờng lao động bên ngoài từ đó nắm đƣợc tiềm năng lao động, nguồn nhân lực cung cấp cho tổ chức và có biện pháp thu hút nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của tổ chức khi cần thiết [9]. Chất lượng nguồn nhân lực Chất lƣợng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện ở mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực đó là các yếu tố về tinh thần, thể lực và trí lực. Thể lực của nguồn nhân lực [4]: Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các phƣơng thức sản xuất công nghiệp, các trang thiết bị hiện đại ngày càng đƣợc các doanh nghiệp áp dụng vào sản xuất nhiều hơn. Từ đó đòi hỏi con ngƣời phải có sức khỏe và thể lực tốt, sức chịu đựng dẻo dai đáp ứng yêu cầu cao của công nghệ.
Sức khoẻ là sự phát triển hài hoà của con ngƣời cả về vật chất và tinh thần. Sức khoẻ của con ngƣời chịu tác động của nhiều yếu tố: điều kiện tự nhiên, kinh 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tế, xã hội và đƣợc phản ánh bằng các chỉ tiêu cơ bản về sức khoẻ nhƣ chiều cao, cân nậng, các chỉ tiêu về bệnh tật, điều kiện chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ… Việc đảm bảo các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ trong mối quan hệ với phát triển kinh tế sẽ làm tăng chất lƣợng nguồn nhân lực cả trong hiện tại lẫn tƣơng lai. Nhƣ vậy, việc cải thiện sức khoẻ là một trong những nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực. Sức khoẻ vừa là mục đích, vừa là điều kiện của sự phát triển nên yêu cầu bảo vệ và nâng cao sức khoẻ con ngƣời là một đòi hỏi chính đáng mà xã hội và doanh nghiệp cần phải đảm bảo.
Do đó, để nâng cao thể lực nguồn nhân lực cần có các biện pháp cải thiện điều kiện dinh dƣỡng, nhà ở và môi trƣờng cho ngƣời lao động để tạo ra lối sống lành mạnh, tác phong làm việc khoa học, đảm bảo tốt chế độ nghỉ ngơi và chăm sóc sức khoẻ cho ngƣời lao động. Trí lực của nguồn nhân lực [4]: Nhân tố trí lực của nguồn nhân lực thƣờng đƣợc xem xét đánh giá trên các góc độ: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và phẩm chất tâm lý, xã hội của ngƣời lao động. • Về trình độ học vấn: Một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực là trình độ học vấn nói chung và trình độ chuyên môn nghiệp vụ nói riêng. Trình độ học vấn là khả năng về tri thức và kỹ năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản, thực hiện những việc đơn giản để duy trì cuộc sống.
Trình độ học vấn là nền tảng cho việc tiếp thu các kiến thức khoa học kỹ thuật, đào tạo và tái đào tạo nghề nghiệp. Hiện nay trình độ học vấn của ngƣời lao động ngày càng đƣợc nâng cao. Nhu cầu và mong muốn công việc của học cũng thay đổi so với thế hệ lao động thời bao cấp: thích xê dịch (thay vì gắn bó lâu dài và biên chế cả 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đời), muốn đƣợc thử thách, muốn tìm đƣợc công việc lƣơng cao và đãi ngộ xứng đáng. Do đó các chuyên gia quản lý nguồn nhân lực cần nhận rõ chất lƣợng của ngƣời lao động từ thị trƣờng lao động bên ngoài và đƣa ra những chính sách thu hút và giữ chân ngƣời tài ở lại với doanh nghiệp.
• Về trình độ chuyên môn kỹ thuật: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là kiến thức và kỹ năng cần thiết để đảm nhiệm các chức vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề nghiệp khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho tổ chức mà mình làm việc. Lao động kỹ thuật bao gồm những công nhân kỹ thuật từ bậc 3 trở lên (có bằng hoặc không có bằng) cho tới những ngƣời có trình độ trên đại học. Một lực lƣợng lao động đông đảo có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là đòi hỏi hàng đầu và là nhân tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Công tác giáo dục đào tạo của đất nƣớc đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lƣợng ngƣời lao động nhằm đảm bảo yêu cầu công việc của doanh nghiệp và theo kịp với thực tế phát triển của nền kinh tế.
Do đó Nhà nƣớc cần có quan điểm nhất quán và tập trung đầu tƣ hơn nữa cho lĩnh vực này. • Về phẩm chất tâm lý, xã hội của nguồn nhân lực [4]: Cùng với tiến trình phát triển của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc, ngoài yếu tố thể lực, trí lực ra thì quá trình lao động đòi hỏi ngƣời lao động hàng loạt các phẩm chất tâm lý và xã hội cơ bản khác nhƣ: + Có tác phong công nghiệp (nhanh nhẹn, khẩn trƣơng, đúng giờ); + Có ý thức kỷ luật, tự giác cao; + Có niềm say mê nghề nghiệp, chuyên môn; + Sự sáng tạo, năng động trong công việc; 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với những thay đổi trong công việc. Quản lý nguồn nhân lực tại doanh nghiệp 1.