Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đại học. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trường đại học công nghệ - ĐHQGHN. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của SV trường đại học Công nghệ - ĐHQGHN. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Giáo dục đại học luôn là mối quan tâm hàng đầu, đặc biệt vào những thập niên cuối thế kỷ XX, khi khoa học và công nghệ phát triển với tốc độ mạnh mẽ. Để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao thì quá trình đào tạo ở các trường đại học phải gắn với NCKH và thực tiễn cuộc sống. Công tác nghiên cứu khoa học là một bộ phận không thể tách rời của quá trình đào tạo sinh viên các trường Đại học. Theo kinh nghiệm của các trường đại học lớn trên thế giới, việc đẩy mạnh NCKH gắn với đào tạo là vấn đề sống còn đối với trường đại học.
Kết quả NCKH là tiêu chí quan trọng trong việc xếp hạng các trường đại học trên thế giới. Các công trình nghiên cứu về hoạt động NCKH có nhiều và chủ yếu đi theo hai hướng: - Hướng thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về lý luận NCKH bàn về bản chất, quy trình, nội dung NCKH và quản lý quy trình NCKH. - Hướng thứ hai: Các công trình nghiên cứu trên bình diện thực tiễn phát hiện thực trạng hoạt động NCKH tại các cơ sở giáo dục. Có thể kể ra một số công trình sau: Ở nƣớc ngoài Năm 1971, M.Lubixưna và A.
Gơroxepxki trong chuyên khảo Tổ chức công việc tự học của sinh viêncho rằng NCKH của sinh viên đại học là một trong những hình thức hoàn thiện nhất về mặt đào tạo khoa học, có hiệu quả thiết thực đối với việc nâng cao trình độ của sinh viên.Prikhodko trong tác phẩm Tổ chức và phương pháp công tác NCKH đã giới thiệu những nét đặc trưng cơ bản của hoạt động NCKH của sinh viên. Tác giả đánh giá tầm quan trọng của việc tổ chức cho sinh viên làm niên luận, khóa luận tốt nghiệp, coi đây là những hình thức NCKH ban đầu nhờ đó mà sinh viên có năng tự học và học suốt đời. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoa Kỳ trong Chiến lược 1998 - 2000 của Bộ Giáo dục đã ghi nhận NCKH giáo dục góp phần cải thiện nền giáo dục quốc gia, Hoa kỳ đã xác định những vấn đề ưu tiên tổ chức cho sinh viên NCKH. Trong tác phẩm “Research and Report Writing” [14], tác giả Francesco Cordasco và Elliots S.Galner đã chỉ ra những hoạt động quản lý cụ thể để hình thành kỹ năng NCKH cho sinh viên.
Ở Mỹ, nghiên cứu được quan niệm là một quá trình học tập tích cực hình thành nên tư duy phê phán và kĩ năng giải quyết vấn đề, tác giả Gary Anderson (New York) (1990), trong tác phẩm Fundamentals of educational research. [15], tác giả chú trọng đến việc nhà quản lí cũng như GV phải tìm tòi các nguyên tắc, phương pháp cũng như công cụ, kĩ thuật NCKH để huấn luyện cho SV làm NCKH. Năm 1983 tại Singapore, hai tác giả Keith Howard và John A.Sharp đã biên soạn tài liệu The management of a student research project nhằm giúp SV biết cách QL kế hoạch nghiên cứu. Các tác giả đã trình bày những vấn đề về chọn lựa đề tài, xây dựng kế hoạch nghiên cứu, tập hợp, phân tích, xử lí và đánh giá kết quả NCKH.
Như vậy, ở nước ngoài qua các công trình khoa học cho thấy các tác giả quan tâm không chỉ về phương diện phương pháp luận, mà còn đặc biệt quan tâm đến các vấn đề về tổ chức và các kỹ năng cụ thể cần được huấn luyện, trang bị cho sinh viên, NCKH là một hoạt động quan trọng và quản lý hoạt động NCKH là hoạt động tất yếu không thể thiếu. Ở trong nƣớc Nghiên cứu khoa học (NCKH) chiếm một vai trò quan trọng trong đời sống con người nói chung và tư duy trong môi trường giáo dục nói riêng. Chính vì lý do đó, hoạt động NCKH tại Việt Nam, và đặc biệt là tại các trường Cao đẳng, Đại học được chú trọng và khuyến khích phát triển. Khoản 2 điều 28 Luật Giáo dục Đại học năm 2012 quy định một trong các nhiệm vụ và quyền hạn của trường cao đẳ ng , trường đa ̣i ho ̣c , học viện là “ triển khai hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học.” Bên cạnh đó, Khoản 2 điều 55 của Luật này cũng quy định “Nghiên cứu, phát triển ứng dụng khoa h ọc và chuyển giao công nghệ,bảo đảm chất lượng đào tạo” [23] là một nhiệm vụ quan 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trọng của Giảng viên trường đại học.
Tuy nhiên, đối tượng của hoạt động Khoa học công nghệ trong nhà trường đại học không chỉ bao gồm giảng viên và các nhà khoa học khác, mà còn có cả SV thuộc các loại hình đào tạo đang theo học tại trường. Điều này thể hiện qua mục tiêu “hình thành và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho người học” mà hoạt động Khoa học Công nghệ của nhà trường hướng tới (Điều 39, Khoản 2, Luật Giáo dục Đại học). [23] Nhận thức được vai trò quan trọng của hoạt động NCKH trong giáo dục Đại học nói riêng và giáo dục Việt Nam nói chung, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này, tiêu biểu như: Luâ ̣n án Tiế n sĩ QLGD Quản lí nghiên cứu khoa học ở các trường Đại học Sư phạm của tác giả Hoàng Thị Nhị Hà (2009), Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam; Luâ ̣n văn Tha ̣c sĩ QLGD Các biện pháp quản lí nhằm tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên của tác giả Nguyễn Vân Anh (2008); Luâ ̣n văn Tha ̣c sĩ QLGD Công tác quản lí hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học Quốc gia TPHCM của tác giả Đinh Ái Linh (2006); “Biện pháp tăng cường quản lý hoạt động NCKH của giảng viên trường Cao đẳng sư phạm Lạng Sơn” (2008) của Vũ Thị Lan Anh; “Nghiên cứu đánh giá hoạt động NCKH của giảng viên học viện hành chính” (2009) của Hoàng Thị Mai Hoa; “Biện pháp quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường cao đẳng Sơn La” (2009) của Cấn Thị Tửu; “ Một số biện pháp quản lý hoạt động NCKH cho giáo viên trường cao đẳng Sơn La” (2009) Nguyễn Văn Nho; “Biện pháp quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trường đại học sư phạm Hà Nội” (2010) của Đặng Ngọc Phúc…. Các luận văn về quản lý hoạt động NCKH nêu trên chủ yếu được thực hiện bởi các cán bộ, giảng viên công tác tại các trường cao đẳng và ngành sư phạm.
Công tác quản lý hoạt động NCKH ở các trường đại học, cao đẳng đã được đề cập, trong đó các tác giả luận văn đã xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động NCKH ở các trường sư phạm, chỉ ra được thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động NCKH và đưa ra các nhóm giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý hoạt động NCKH trong trường sư phạm với những đặc thù riêng. Tuy nhiên, đối 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với các ngành đào tạo về kỹ thuật, công nghệ, những nghiên cứu về vấn đề này hiện chưa nhiều, đặc biệt tại ĐHQG Hà Nội, luận văn này sẽ là một trong những nghiên cứu ít ỏi được thực hiện. Tóm lại, điểm qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề nghiên cứu khoa học cho sinh viên, chúng tôi nhận thấy: các tác giả đã tập trung phản ánh tính cấp thiết, vai trò quan trọng của việc tổ chức cho sinh viên nghiên cứu khoa học. Một số tác giả đề xuất phương pháp, biện pháp, cách thức hướng dẫn đánh giá nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của sinh viên trên cơ sở khảo sát thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên các trường đại học.
Nhưng các biện pháp quản lý cho hoạt động này để nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học chưa thực sự đạt hiệu quả. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý và Quản lý giáo dục 1. Quản lý Nghiên cứu về QL có rất nhiều quan niệm khác nhau.
Các quan niệm này phản ánh những mặt, những chức năng cơ bản của quá trình QL, song về cơ bản các quan niệm đều khẳng định đến chủ thể, đối tượng QL, nội dung phương thức và mục đích của quá trình QL. Mác: “QL là lao động điều khiển lao động”. Mác – Ăngghen: Toàn tập, tập 25, phần II, tr. Mác đã coi việc xuất hiện QL như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại.
Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý nhưng đều được gắn với ngành, lĩnh vực và theo những góc độ và cách tiếp cận khác nhau. Các nhà nghiên cứu về quản lý cũng đưa ra các khái niệm quản lý như: Frederick Winslow Taylor (1856-1915) người Mỹ, tác giả của thuyết quản lý khoa học cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Henry Fayol (1841-1925) người Pháp đại diện tiêu biểu cho “Thuyết quản lý hành chính” định nghĩa: “Quản lý là sự dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và cuối cùng là kiểm tra”. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu như dự kiến”[26,Tr 25] Theo tập thể tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”.