phần mở đầu và kết luận, nội dung nghiên cứu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về quản lý ngân sách nhà nƣớc Chƣơng 2: Thực trạng quản lý ngân sách nhà nƣớc tại huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3:Một số giải pháp tăng cƣờng quản lý ngân sách nhà nƣớc tại huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Cơ sở lý luận về quản lý ngân sách 1.
Khái niệm đặc điểm, vai trò, nguyên tắc ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm Ngân sách nhà nƣớc cho đến nay có rất nhiềm quan niệm của các nhà nghiên cứu đƣa ra, song vẫn chƣa có khái niệm thống nhất. Tuy nhiên khi bàn đến khái niệm NSNN thì có hai quan niệm phổ biến về NSNN. Quan niệm thứ nhất cho rằng NSNN là bảng kế hoạch thu chi bằng tiền của Nhà nƣớc trong một khoản thời gian nhất định.
Quan niệm thứ hai cho rằng NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nƣớc. Hai quan niệm phổ biến trên chỉ phản ánh đƣợc hình thái hoạt động bề ngoài của ngân sách và mặt vật chất của ngân sách, nhƣng nếu nhìn về bản chất bên trong thì chƣa the hiện đƣợc nguồn gốc kinh tế xã hội của ngân sách. Trong thực tế, thuật ngữ thu, chi ngân sách đã đƣợc khái quát hóa, trong đó thu đƣợc hieu là tất cả các nguồn tiền đƣợc huy động cho Nhà nƣớc, còn chi là bao gồm các khoản chi và các khoản trả khác của Nhà nƣớc, đồng thời hoạt động thu, chi của ngân sách đƣợc tiến hành rất đa dạng và phong phú trên hầu hết các lĩnh vực, tác động đến moi chủ the kinh tế - xã hội. Nhƣ vậy, có the nói đằng sau hoạt động thu, chi của ngân sách là sự the hiện các quan hệ kinh tế, xã hội của nhà nƣớc với các chủ the.
Nhƣ vậy, từ những nội dung trên, ta có the rút ra khái niệm chung về ngân sách nhƣ sau: Ngân sách nhà nƣớc là sự bieu hiện các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc khi Nhà nƣớc tham gia phân phối các nguồn tài chính 7 quốc gia về cơ bản theo nguyên tác không hoàn trả trực tiếp. Tuy nhiên, Theo Điều 4, uật số: 83/2015/QH13 ban hành ngày 25 tháng 06 năm 2015 của Quốc hội: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” Hoạt động của NSNN là hoạt động phân phối các nguồn tài chính, là quá trình giải quyết quyền lợi kinh tế giữa Nhà nƣớc và xã hội với kết quả là các nguồn tài chính đƣợc phân chia thành hai phần: Phần nộp vào NSNN và phần đe lại cho các thành viên trong xã hội. Phần nộp vào NSNN sẽ tiếp tục phân phối lại, the hiện qua các khoản cấp phát từ ngân sách cho các mục đích tiêu dùng và đầu tƣ. Trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân đã làm xuất hiện hệ thống các quan hệ tài chính.
Hoạt động thu, chi NSNN cũng là hoạt động tài chính và làm nảy sinh các quan hệ tài chính. Hệ thống các quan hệ tài chính tạo nên bản chất của NSNN đƣợc the hiện dƣới hình thức cụ the, đó là các mối quan hệ: quan hệ tài chính giữa nhà nƣớc và các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh; quan hệ tài chính giữa nhà nƣớc với các đơn vị quản lý nhà nƣớc nằm trong các lĩnh vục sự nghiệp văn hóa xã hội, hành chính và an ninh quốc phòng; quan hệ kinh tế giữa NSNN với hộ gia đình và dân cƣ; quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trƣờng tài chính. Tóm lại, từ sự phân tích trên đây, ta thấy rằng mặc dù bieu hiện của NSNN rất đa dạng và phong phú, nhƣng về thực chất chúng phản ánh lại nội dung là: NSNN hoạt động trong lĩnh vực phân phối các nguồn tài chính và vì vậy nó the hiện các mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa nhà nƣớc và xã hội; quyền lực ngân sách thuộc về Nhà nƣớc, moi khoản thu và chi tài chính của nhà nƣớc đều do nhà nƣớc quyết định và nhằm mục đích phục vụ yêu cầu thực hiện các chức năng của nhà nƣớc. 8 Từ những nội dung trên chính là những mặt, những mối liên hệ quyết định sự phát sinh, phát trien của NSNN.
Do đó, bản chất của NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế - xã hội giữa nhà nƣớc và xã hội phát sinh trong quá trình nhà nƣớc huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý và đều hành nền kinh tế - xã hội của mình. Đặc điểm ngân sách nhà nước Từ khái niệm trên, có the rút ra những đặc điem cơ bản của NSNN, nhƣ sau: - NSNN là một bộ Luật tài chính đặc biệt, bởi lẽ trong NSNN, các the chế của nó đƣợc thiết lập dựa vào hệ thống các pháp luật có liên quan nhƣ hiến pháp, Luật thuế,. Mặt khác, bản thân NSNN cũng là bộ luật do Quốc hội ban hành và thông qua hàng năm, mang tính chất áp đặt và bắt buộc các chủ the KT-XH có liên quan phải tuân thủ. - NSNN là một bản dự toán thu, chi (yếu tố vật chất),các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập NSNN và đề ra các thông số quan trong có liên quan đến chính sách của Chính phủ.
Chính sách nào mà không đƣợc dự kiến trong ngân sách thì sẽ không đƣợc thực hiện. Chính vì lẽ đó, việc thông qua NSNN là một sự kiện chính trị quan trong, nó bieu hiện sự nhất trí trong Quốc hội về chính sách của Nhà nƣớc. - NSNN là một công cụ quản lý, NSNN đƣa ra danh mục các khoản thu mà Chính phủ chỉ đƣợc phép thu và danh mục các khoản chi tiêu trong khuôn khổ NSNN đƣợc Quốc hội phê duyệt. Đặc điem này cho thấy, NSNN là công cụ giúp cho Quốc hội quản lý và kiem soát chặt chẽ các khoản chi tiêu, thu nhập của Chính phủ trong mỗi năm tài khóa.
NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. NSNN bao gồm những quan hệ tài chính nhất định trong tổng the các quan hệ tài chính của quốc gia. Có the ke ra các quan hệ đó là: quan hệ tài chính giữa nhà nƣớc với dân cƣ; quan hệ tài chính giữa nhà nƣớc với doanh nghiệp thuộc moi 9 thành phần kinh tế, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nƣớc; quan hệ tài chính giữa nhà nƣớc với tổ chức xã hội; quan hệ tài chính giữa nhà nƣớc với các nhà nƣớc khác và với các tổ chức quốc tế,… 1. Vai trò ngân sách nhà nước Vai trò của NSNN ở moi thời đại và trong moi mô hình kinh tế đều là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền KT-XH và đó đƣợc xem là vai trò quan trong bậc nhất của NSNN.
Vai trò này về mặt chi tiết chúng ta có the đề cập đến ở những nội dung và những bieu hiện đa dạng khác nhau, song trên góc độ tổng quát thì vai trò của NSNN đƣợc the hiện qua các khía cạnh sau: - Ngân sách nhà nƣớc đảm bảo nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc Mục tiêu của NSNN không phải đe nhà nƣớc đạt đƣợc lợi nhuận nhƣ các doanh nghiệp hay đe bảo vệ vị trí của mình trƣớc các đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng. NSNN phải đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc đe duy trì sự tồn tại của bộ máy nhà nƣớc, còn phải xây dựng cơ sở hạ tầng KT- XH đe tạo ra môi trƣờng thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động, cho ngƣời dân sinh sống và cho công tác An ninh – Quốc phòng. - Góp phần kích thích tăng trƣởng kinh tế NSNN đƣợc sử dụng nhƣ là công cụ tác động vào cơ cấu kinh tế nhằm đảm bảo cân đối hợp lý của cơ cấu kinh tế và sự ổn định của chu kỳ kinh doanh. Trƣớc xu thế phát trien mất cân đối của các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế, thông qua quỹ ngân sách, Chính phủ có the áp dụng các chính sách ƣu đãi, đầu tƣ vào các lĩnh vực mà tƣ nhân không muốn đầu tƣ vì hiệu quả đầu tƣ thấp hoặc qua các chính sách thuế bằng việc đánh thuế vào những hàng hóa, dịch vụ của tƣ nhân có khả năng thao túng trên thị trƣờng.
Đồng thời, áp dụng mức thuế suất ƣu đãi đối với những hàng hóa mà Chính phủ khuyến khích,nhờ đó mà có the đảm bảo sự cân đối, công bằng trong nền kinh tế. - Điều tiết thị trƣờng, ổn định giá cả và kiem soát lạm phát Trong cơ chế thị trƣờng, cung cầu là những yếu tố chi phối mạnh mẽ 1 đến hoạt động của thị trƣờng. Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ tác động đến giá cả, làm giá cả tăng – giảm đột biến gây ra các biến động trên thị trƣờng. Đe điều tiết cung – cầu, ổn định giá cả, nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng, Nhà nƣớc sử dụng NSNN đe can thiệp vào thị trƣờng dƣới các hình thức trực tiếp, nhƣ: chi ngân sách mua hàng hóa, dịch vụ đe điều chỉnh tổng cầu, trợ giá, tài trợ vốn nhằm kích cầu, kích cung ….
Đồng thời sử dụng thuế, một bộ phận của NSNN đe tác động gián tiếp vào cung – cầu thông qua hạn chế hoặc khuyến khích sản xuất và tiêu dùng. Bên cạnh đó, NSNN còn đƣợc sử dụng đe can thiệp vào thị trƣờng tài chính thông qua sử dụng các quỹ dự trữ tài chính tác dộng vào cung cầu tiền tệ, trên cơ sở đó Nhà nƣớc thực hiện kiềm chế và kiem soát lạm phát. - Giải quyết các vấn đề xã hội Với chức năng phân phối, NSNN đƣợc xem là một công cụ quan trong đe điều tiết làm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập, hạn chế sự phân hóa giữa các tầng lớp dân cƣ và góp phần vào thực hiện công bằng xã hội. Vai trò này của NSNN đƣợc the hiện ở cả hai mặt thu và chi.
Về thu, Nhà nƣớc sử dụng thuế trực thu, thuế gián thu đe điều tiết thu nhập của moi tầng lớp dân cƣ. Về chi, thông qua các khoản chi tiêu ngân sách, Nhà nƣớc thực hiện các chính sách phúc lợi và tạo ra những sản phẩm, dịch vụ công phục vụ cho nhu cầu chung cho toàn xã hội.