phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý ngân sách Nhà nƣớc. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý ngân sách Nhà nƣớc tại huyện Đức Thọ Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý ngân sách Nhà nƣớc tại huyện Đức Thọ. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây, tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý NSNN từ quy mô cấp quốc gia cho đến cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã.
Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu nhƣ: - Báo cáo tham luận "Ý kiến tham gia sửa đổi, bổ sung Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002" của tác giả Đặng Văn Thanh trình bày tại buổi tọa đàm góp ý hoàn thiện dự thảo Luật ngân sách nhà nƣớc, Hội Luật gia Việt Nam tổ chức, ngày 14/01/2014, Hà Nội. Trong báo cáo của mình; tác giả cho rằng, Luật NSNN 2002 đi vào cuộc sống đã phát huy mạnh mẽ tiềm năng đất nƣớc, đảm bảo phát triển NSNN nhanh và vững chắc, trên cơ sở tăng quyền chủ động, trách nhiệm của địa phƣơng và các Bộ, ngành trong việc quản lý tài chính ngân sách đƣợc phân cấp; xây dựng nền tài chính lành mạnh, công khai, tăng cƣờng kỷ cƣơng, kỷ luật, thực hiện chế độ trách nhiệm của thủ trƣởng đơn vị sử dụng ngân sách. Tuy nhiên, Luật NSNN 2002 cũng cho thấy không ít vƣớng mắc và bộc lộ những hạn chế cần phải sửa đổi bổ sung. Một trong những đề nghị sửa đổi bổ sung đáng chú ý là xác định mức độ tập trung và phân cấp trong quản lý điều hành ngân sách, theo đó Nội dung phân cấp cần rõ ràng hơn, sâu hơn.
Trao quyền và trách nhiệm cho HĐND tỉnh quyết định ngân sách Địa phƣơng. Ngoài ra, không nên giao quyền và trách nhiệm về NSNN nhƣ nhau đối với các địa phƣơng mà cần tính đến đặc thù của các địa phƣơng. Làm đƣợc nhƣ vậy sẽ giảm dần việc lồng ghép trong ngân sách, phát huy cao độ tính chủ động, sáng tạo của các cấp chính quyền. - Bài báo "Một số vấn đề pháp lý về phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Lê Thị Thu Thủy đăng trên Tạp chí khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên san Luật học số 26 (2010).
Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả trên cơ sở nghiên cứu thực trạng 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp luật về phân cấp quản lý NSNN, từ đó đƣa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định về lĩnh vực nghiên cứu. Có hai kiến nghị đƣợc chú ý trong nghiên cứu: Một là, kiến nghị bổ sung luật và các văn bản hƣớng dẫn luật theo hƣớng tăng quyền chủ động về quản lý NSNN cho địa phƣơng. Hai là, kiến nghị thời hạn NSNN là trung hạn (5 năm) thay vì một năm nhƣ hiện nay đang quy định. - Đề tài luận án tiến sĩ quản lý hành chính công tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh "Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay" (2013), của tác giả Lê Toàn Thắng.
Trong luận án nghiên cứu của mình tác giả đã hệ thống hóa lý luận về phân cấp quản lý Nhà nƣớc; thông qua nghiên cứu thực trạng về phân cấp quản lý ngân sách nhà nƣớc ở Việt Nam trƣớc khi ban hành luật NSNN 2002 và sau khi ban hành luật, tác giả đã có những đánh giá những ƣu điểm và chỉ ra tồn tại. Một trong những tồn tại đƣợc tác giả chú trọng nghiên cứu đó là phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam vẫn thực hiện theo phƣơng thức quản lý theo các yếu tố đầu vào, tồn tại này làm cho hiệu quả sử dụng NSNN chƣa cao. - Đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế tại Đại học Kinh tế - ĐHQGHN "Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách cấp huyện của tỉnh Hưng Yên" (2014), của tác giả Vũ Thành Nam. Trong công trình nghiên cứu, tác giả đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về quản lý ngân sách nhà nƣớc cấp huyện; thông qua nghiên cứu thực trạng về công tác quản lý NSNN tại thành phố Hƣng Yên và huyện Khoái Châu, tác giả đã chỉ ra những mặt hạn chế cần khắc phục nhƣ vấn đề mất cân đối trong nội dung thu ngân sách và tình trạng nguồn thu ngân sách phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thu không ổn định là tiền sử dụng đất.
Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình nghiên cứu và bài viết khác về quản lý NSNN ở cấp vĩ mô hoặc trên phạm vi một tỉnh, thành phố, huyện và xã. Các công trình đã đề cập đến nhiều khía cạnh của hoạt động quản lý NSNN; khía cạnh về ban hành Luật pháp, chính sách, chế độ về NSNN, về chu trình ngân sách nhà nƣớc, về hoạt động quản lý thu chi, về thanh tra, kiểm tra và kiểm toán việc thực hiện NSNN. Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có công trình nào nghiên 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cứu một cách có hệ thống về quản lý NSNN tại huyện Đức Thọ. Điều đó thúc đẩy tác giả mạnh dạn chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý kinh tế.
Cơ sở lý luận về quản lý ngân sách nhà nƣớc cấp huyện 1. Ngân sách nhà nước cấp huyện 1. Ngân sách nhà nước Thuật ngữ "ngân sách nhà nƣớc" đƣợc sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nƣớc lại chƣa thống nhất, ngƣời ta đã đƣa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nƣớc tùy theo các trƣờng phái và các lĩnh vực nghiên cứu: Quan niệm thứ nhất, Ngân sách nhà nƣớc là bản dự trù thu chi tài chính của nhà nƣớc trong một khoảng thời gian nhất định, thƣờng là một năm.
Quan niệm này đúng về mặt hình thức, đã mô tả mặt thực thể vật chất của NSNN; tuy nhiên chƣa thể hiện đƣợc vị trí của NSNN. Quan niệm thứ hai, Ngân sách nhà nƣớc là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nƣớc, là kế hoạch tài chính cơ bản của nhà nƣớc. Quan niệm này đã mô tả mặt cụ thể, mặt vật chất của NSNN đồng thời thể hiện vị trí NSNN so với các quỹ tiền tệ khác. Tuy nhiên, quan này này cũng chƣa thể hiện đƣợc nội dung kinh tế xã hội của NSNN.
Quan niệm thứ ba, Ngân sách nhà nƣớc là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nƣớc huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau. Quan điểm này đã nêu bật đƣợc NSNN chứa đựng các quan hệ kinh tế, tuy nhiên lại không nói lên đƣợc thực thể vật chất NSNN là gì? Điều 1 của Luật NSNN đƣợc Quốc hội khóa XI nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 2 năm 2002 cũng đƣa ra khái niệm NSNN: "NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước". Các khái niệm và định nghĩa trên về NSNN chỉ mới thể hiện hình thức hoạt động của NSNN và tính chất pháp lý của nó. Tuy nhiên các nhìn nhận nhƣ trên là chƣa đầy đủ về mặt xác định khái niệm và về mặt tìm hiểu bản chất của NSNN.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái niệm NSNN phải thể hiện đƣợc nội dung kinh tế - xã hội của NSNN, phải đƣợc xem xét trên các mặt hình thức, thực thể và quan hệ kinh tế chứa đựng trong NSNN. Xét về hình thức: NSNN là một bản dự toán thu và chi do Chính phủ lập ra, đệ trình Quốc hội phê chuẩn và giao cho Chính phủ tổ chức thực hiện. Hoạt động của NSNN đƣợc thể hiện thông qua thu, chi của Nhà nƣớc. Trong thực tế hoạt động các hình thức thu, chi của NSNN hết sức phong phú và đa dạng, nhƣng chúng không hề mang tính tự phát hoặc nằm ngoài sự kiểm soát của Nhà nƣớc mà chúng bị ràng buộc bởi những nội dung bên trong hết sức chặt chẽ.
Các khoản thu NSNN hầu hết đều mang tính chất bắt buộc, còn các khoản chi lại mang tính cấp phát không hoàn trả một cách trực tiếp. Xét về thực thể vật chất: NSNN bao gồm những nguồn thu và những khoản chi cụ thể và đƣợc định lƣợng. Các nguồn thu đều đƣợc nộp vào một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc; các khoản chi đều đƣợc xuất ra từ quỹ tiền tệ tập trung ấy. Xét về nội dung kinh tế: Các khoản thu chi của NSNN đều phản ánh những mối quan hệ kinh tế nhất định giữa Nhà nƣớc với các chủ thể hoạt động trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế - xã hội, bao gồm: - Quan hệ tài chính giữa Nhà nƣớc với dân cƣ thông qua các khoản thuế, lệ phí, ủng hộ tự nguyện, đồng thời các hộ khác nhận từ Ngân sách nhà nƣớc những khoản trợ cấp xã hội theo chính sách quy định.
- Quan hệ tài chính giữa Nhà nƣớc với các các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế: Doanh nghiệp nộp thuế cho Nhà nƣớc, Nhà nƣớc cấp phát kinh phí để phát triển kinh tế cho doanh nghiệp, tài trợ vốn cho các doanh nghiệp. - Quan hệ tài chính giữa Nhà nƣớc với các tổ chức tài chính: Nhà nƣớc thực hiện phát hành các loại chứng khoán nhƣ tín phiếu, trái phiếu. nhằm huy động vốn của tất cá chủ thể trong xã hội. - Quan hệ tài chính giữa Nhà nƣớc với các tổ chức chính trị - xã hội thông qua việc cấp phát kinh phí cho các đơn vị thực hiện các hoạt động văn hóa, thể 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thao, giáo dục đào tạo, y tế, an sinh xã hội.
nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội theo hƣớng bền vững. - Quan hệ tài chính giữa Nhà nƣớc với các Quốc gia và các tổ chức quốc tế thông qua các hoạt động tài trợ hay viện trợ nhân đạo, đầu tƣ nƣớc ngoài, vay, cho vay.