Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỀN NẾP SINH HOẠT VÀ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới Nền nếp hay nề nếp là hai từ đồng nghĩa. Dưới góc độ danh từ thì nền nếp chỉ toàn bộ những quy định và thói quen để duy trì sự ổn định, trật tự, có tổ chức trong công việc hoặc sinh hoạt, còn dưới góc độ tính từ thì nền nếp có nghĩa là có thói quen tốt, đáng để học tập. Nghiên cứu về nền nếp trên phạm vi thế giới tùy theo cách diễn dịch khác nhau mà ta có thể hiểu theo những khái niệm liên quan như: Nếp sống, lối sống.
Trên thế giới thuật ngữ “Lối sống”, “Nếp sống” đã được nêu ra và nghiên cứu từ cuối thế kỉ 19. Vào những năm 70 - 80 của thế kỉ XX việc nghiên cứu lối sống, nếp sống ở các nước XHCN Đông Âu phát triển khá mạnh mẽ. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau : + Bêlôva : “Bàn về khái niệm lối sống” - Ủy ban khoa học xã hội - Viện xã hội học, 1977. + Đôbrưnhia : “Lối sống Xô Viết hôm nay và ngày mai” - NXB Tiến bộ, 1981.
+ Visnhicôvxki “ Lối sống XHCN” - NXB lao động - Hà Nội, 1981. + “Lối sống XHCN” của nhiều tác giả - Bản dịch nguyên bản tiếng Nga của nhà xuất bản chính trị Matxcơva, 1980 - NXB sự thật - Hà Nội,1981. Hầu hết các tác phẩm trên đều khẳng định cơ sở của lối sống, nếp sống XHCN bắt nguồn từ phương thức sản xuất XHCN và luôn dựa trên cơ sở của tính tập thể, tính giai cấp, đối lập với lối sống, nếp sống tư bản chủ nghĩa chạy theo đồng tiền, lối sống thực dụng. Trong những thập kỉ gần đây vấn đề lối sống, nếp sống của học sinh, sinh viên cũng được nghiên cứu nhiều.
Trong cuốn “The student revolution Aglobananalysis” xuất bản năm 1970 tại Ấn Độ đã đề cập đến vấn đề của sinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.vn c viên thế giới: Thái độ đối với những sự kiện chính trị, đảng phái, chính sách của Chính phủ: Sự tham gia của các sinh viên trong phong trào chính trị - xã hội ở các nước; các tổ chức xã hội và đoàn thể của sinh viên… Nhưng vấn đề nếp sống cũng chỉ được xem xét và mô tả một cách rời rạc, chưa khai thác được khía cạnh văn hóa trong một chỉnh thể nếp sống, lối sống. Các nghiên cứu ở Việt Nam Việc giáo dục nền nếp về hành vi đạo đức hàng ngày đã được các ông đồ nho giải quyết bằng những bài học trong sách “Minh tâm bảo giám”, “Minh đạo gia huấn” nhằm giúp các em tạo thói quen, hình thành những nền nếp ứng xử đẹp trong gia đình và ở cộng đồng. Đến năm 1986, Việt Nam triển khai cải cách giáo dục theo đường lối đổi mới của Đảng đã được khởi xướng ở Đại hội VI thì vấn đề ổn định giáo dục phổ thông, thực hiện nền nếp, kỷ luật, kỷ cương trong các trường phổ thông bắt đầu được chú trọng. Từ năm 1986 đến nay, công tác quản lý nền nếp học tập của học sinh phổ thông được nhiều nhà giáo dục, nhiều nhà sư phạm quan tâm, nhiều sáng kiến giảng dạy ở các cấp độ khác nhau được thực hiện.
Điển hình là sáng kiến của Đinh Thị Thanh Loan trường Tiểu học Lý Thường Kiệt, Quận Đống Đa - Hà Nội về “Những định hướng để hình thành nền nếp học tập cho học lớp 1” đã chỉ ra một số biện pháp giúp học sinh rèn nền nếp học tập trên lớp, rèn nền nếp học tập ở nhà, kết hợp với giáo viên bộ môn và phụ huynh học sinh cùng có biện pháp rèn nền nếp cho học sinh, đồng thời áp dụng biện pháp nêu gương, khen thưởng đối với những học sinh có nền nếp học tập tốt, nhờ đó các em đã có ý thức học tập tốt hơn và có hứng thú say mê trong học tập. Ngoài ra còn có một số bài viết về nền nếp học tập, sinh hoạt cho con của Phạm Thị Thu Hà, nghiên cứu này đề cập biện pháp hướng dẫn học sinh tự học ở nhà, giáo viên cần cải thiến nội dung và các hình thức tổ chức dạy học thu hút hứng thú học tập của trẻ 7 tuổi. Ngoài ra còn có một số sáng kiến kinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.vn c nghiệm khác nghiên cứu về nề nếp nhưng cũng chỉ nghiên cứu về xây dựng nền nếp chủ nhiệm đối với học sinh tiểu học. Hạn chế của một số sáng kiến và nghiên cứu trên là chưa chú ý tập trung các biện pháp có tính toàn diện mà nhà quản lý và giáo viên, phụ huynh phải vận dụng để nâng cao chất lượng giáo dục.
Trong thời gian gần đây việc nghiên cứu lối sống, nếp sống nói chung và lối sống, nếp sống học sinh, sinh viên nội trú nói riêng đã được rất nhiều tác giả quan tâm và một số công trình, luận án đã đi sâu vào những vấn đề cụ thể như: + Vũ Dũng: “Nếp sống xã hội của sinh viên” Tạp chí đại học và giáo dục chuyên nghiệp (01/1997) + Mạc Văn Trang : “Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên ” Đề tài cấp Bộ. + Khúc Năng Toàn : “Nếp sống có văn hóa của sinh viên sư phạm” Luận văn thạc sỹ Tâm lý học, Hà Nội 1999. + Trần Văn Trọng: “Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trường Văn hóa 3, Bộ Công an”, Luận văn thạc sỹ Giáo dục học, Hà Nội 2009 + Trầ n Công Thanh: “Thực trạng và các biện pháp giáo dục nế p số ng cho sinh viên nội trú trường Đại học Sư phạm Hà Nội”, mã số 5.03, Luâ ̣n văn tha ̣c sỹ khoa ho ̣c giáo du ̣c, Hà Nô ̣i 1999. + Đinh Thi ̣ Tuyết Mai: “Một số biê ̣n pháp tăng cường công tác quản lý đời số ng sinh viên nội trú - Đại học Quốc gia Hà Nội”, mã số 60.05, Luâ ̣n văn tha ̣c sỹ quản lý giáo du ̣c, Hà Nội, 2003.
Như vậy có thể thấy vấn đề nếp sống, quản lý nền nếp, nếp sống học sinh sinh viên, nội trú và bán trú là một đề tài đã có nhiều tác giả nghiên cứu. Tuy nhiên trong các công trình của các tác giả mà chúng tôi tìm kiếm được thì chưa có công trình hay bài viết khoa học nào nghiên cứu toàn diêṇ về vấ n đề quản lý ho ̣c sinh bán trú. Nếu nghiên cứu về học sinh bán trú thì các tác giả mới chỉ đi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.vn c sâu vào khía cạnh ôn tập và tự học mà chưa đề cập, phân tích đến các mặt khác như ăn ở, sinh hoạt tại ký túc xá của học sinh nội trú. Đã có một số công trình nghiên cứu của một số tác giả đưa ra thực trạng và giải pháp quản lý về các hoạt động ngoài giờ lên lớp và đời sống là những hoạt động song song với hoạt động học tập nhưng không nghiên cứu về học sinh bán trú mà là sinh viên của các trường đại học.
Ngày nay, duy trì nền nếp học tập của học sinh trường phổ thông là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục và đào tạo trong nhà trường phổ thông. Công tác này chi phối lớn đến hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh trong nhà trường. Việc quản lý nền nếp học tập của học sinh nhằm góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quản lý nền nếp học tập của học sinh, thực chất là quá trình quản lý giáo dục về mặt nhận thức học tập của các em, làm cho mỗi học sinh lĩnh hội được nền tri thức của nhân loại để trở thành một nhân cách toàn vẹn.
Trong những năm gần đây, do việc xây dựng mô hình các trường PTDTBT ở các vùng miền núi khó khăn nên bên cạnh việc quản lý nền nếp học tập như các trường phổ thông thông thường thì nảy sinh vấn đề quản lý nền nếp sinh hoạt cho khối học sinh ở bán trú. Bên cạnh đó, chất lượng đào tạo phổ thông hiện còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắc phục. Một trong các nguyên nhân của hạn chế đó là công tác quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo, trong đó có công tác quản lý nền nếp học tập và sinh hoạt của học sinh. Một trong những giải pháp có tính chất quyết định để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông ở các trường PTDTBT là phải đổi mới công tác quản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.vn c lý nền nếp học tập và sinh hoạt của học sinh.
Ở các trường PTDTBT, nền nếp học tập của học sinh có vai trò vô cùng quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng và quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học. Chất lượng giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào nền nếp học tập của học sinh trên lớp cũng như tự học ở nhà. Bên cạnh đó, là nơi sinh hoạt bán trú, các hoạt động trong môi trường ký túc xá cũng cần được quản lý để hình thành nền nếp sinh hoạt khoa học, tiến bộ, phục vụ tốt cho việc học tập. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Quản lý đã được quan tâm nghiên cứu từ nhiều năm trước Tùy theo cách tiếp cận, quản lý được hiểu với nhiều cách khác nhau như sau: - Theo Kondacop M.I (1984): "Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất". [16; tr12] - Theo tác giả Trần Kiểm trích dẫn từ Harold Koontx đã định nghĩa “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức về quản lý là một khoa học”.