Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ LUÂN CHUYỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG 1. Khái quát về bộ máy và cán bộ, công chức hành chính nhà nước ở địa phương 1. Bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương 1. Vai trò của Bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương Bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương là một bộ phận cấu thành bộ máy hành chính nhà nước, thực thi quyền hành pháp, tổ chức triển khai thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống.
Mục tiêu của bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương nhằm mục đích thực thi quyền hành pháp, đảm bảo hiệu lực quản lý của nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương; phục vụ nhân dân và lợi ích chung của cộng đồng, các sản phẩm của quản lý hành chính nhà nước thường không mang tính lợi nhuận, kinh doanh. bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương bao gồm các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và CBCC trong các cơ quan nhà nước. Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương bao gồm: Ủy ban nhân dân tỉnh (viết tắt là UBND tỉnh) và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh; Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã (viết tắt là UBND cấp huyện) và các phòng, ban thuộc UBND cấp huyện; Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi tắt là UBND cấp xã). Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương ban hành năm 2015 đã chia chính quyền địa phương làm 04 loại là chính quyền địa phương ở nông thôn và chính quyền địa phương địa phương ở đô thị, chính quyền địa phương ở hải đảo và chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt đã quy định về chức năng, nhiệm vụ ở mỗi chính quyền khác nhau, theo đó bộ 8 máy hành chính nhà nước cũng khác nhau.
Mỗi cơ quan hành chính nhà nước được trao một hoặc một nhóm chức năng, nhiệm vụ trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, đồng thời với chức năng nhiệm vụ đó, các cơ quan này cũng được nhà nước trao cho những quyền lực tương xứng để thực thi nhằm đạt hiệu lực, hiệu quả cao nhất. Sự phù hợp giữa chức năng, nhiệm vụ với quyền hạn được trao tạo thành thẩm quyền pháp lý cho các cơ quan hành chính nhà nước. Tại Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định các đơn vị hành chính địa phương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện); Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Theo Điều 114 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: (1) UBND ở cấp chính quyền địa phương do HĐND cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan nhà nước cấp trên.
(2) Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao. Việc thành lập các cơ quan nhà nước ở địa phương nhằm những mục đích: để triển khai thực hiện các quyết định của các cơ quan nhà nước trung ương; tạo điều kiện để chính quyền địa phương tự quyết định những vấn đề có liên quan đến đời sống của nhân dân địa phương; giảm bớt gánh nặng của chính quyền trung ương, tạo điều kiện để chính quyền trung ương tập trung sức lực vào giải quyết những công việc tầm cỡ quốc gia; tôn trọng quyền lợi 9 của địa phương trong các chính sách, quyết định của nhà nước. Nhiệm vụ quyền hạn, cơ cấu tổ chức của UBND cấp tỉnh, cấp huyện trong quản lý hành chính nhà nước ở địa phương - Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND từng cấp được quy định tại Điều 8, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Ở mỗi cấp, UBND có nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau nhưng khái quát lại là triển khai thực hiện các nhiệm vụ có liên quan đến phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh, chính trị, giáo dục, đào tạo, an sinh xã hội và vận hành tổ chức bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương.
Đối với công tác cán bộ, UBND tỉnh nhiệm vụ quy định tổ chức bộ máy, CBCC, viên chức và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh. Điều 12, Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ về quy định nhiệm vụ, quyền hạn của UBND tỉnh gồm: (1) Quy định cụ thể, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của sở theo hướng dẫn của Bộ quản lý, ngành, lĩnh vực và Bộ Nội vụ. (2) Quản lý về tổ chức bộ máy; vị trí việc làm; biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính; vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập. - Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, theo đó UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định trong công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, cụ thể: + Được chủ động tuyển dụng công chức theo nhu cầu địa phương; tổ chức thành lập Hội đồng thi tuyển, xét tuyển; quy định về thi, môn thi, chấm thi, quyết định người trúng tuyển; xét chuyển công chức cấp xã thành công chức cấp huyện.
+ Hướng dẫn chế độ tập sự và bổ nhiệm vào ngạch công chức. 10 + Được bố trí, phân công công tác và chuyển ngạch công chức. + Tổ chức nâng ngạch, điều động, luân chuyển, biệt phái công chức. + Thực hiện bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm công chức.
+ Tổ chức đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng công chức. + Quản lý công chức theo phân cấp. - Về cơ cấu tổ chức của Uỷ ban nhân dân: Theo Điều 8, Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định: UBND gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên. + Cơ quan chuyên môn thuộc UBND được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên.
+ Cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên. Cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương 1. Khái niệm Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và 11 hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Đặc điểm cán bộ, công chức - CBCC là một bộ phận nguồn lực quan trọng trong bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương có các đặc điểm sau: là công dân Việt Nam; được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong các cơ quan theo quy định; trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Ở nước ta có sự luân chuyển, bố trí CBCC giữa các cơ quan bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương. Lao động của CBCC là lao động trí tuệ phức tạp trong hệ thống quản lý nhà nước, được thể hiện qua một số đặc điểm sau: Thứ nhất, hoạt động của CBCC là hoạt động nhằm thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, thực hiện chức năng chấp hành và điều hành của cơ quan hành chính nhà nước. Thứ hai, CBCC hoạt động nhân danh nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước, hoạt động của CBCC được đảm bảo bằng nhà nước.
Thứ ba, CBCC được trả lương từ ngân sách nhà nước. Vai trò của cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương CBCC là lực lượng nòng cốt trong bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương, có nhiệm vụ hoạch định các chính sách, thực hiện đường lối chính sách của Nhà nước trở thành thực tiễn, tiếp thu nguyện vọng của nhân dân, nắm bắt những yêu cầu thực tiễn của cuộc sống để phản ánh kịp thời với cấp trên, giúp cơ quan nhà nước ở địa phương đề ra những chính sách sát với thực tiễn. CBCC là nguồn lực quan trọng có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, là một trong những nguồn lực quan trọng trong việc thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.