Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TÍNH KỶ LUẬT CHO SINH VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục tính kỷ luật cho sinh viên 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài 1. Những nghiên cứu về kỷ luật và tính kỷ luật KL và TKL là những vấn đề quan trọng của đời sống xã hội, vì vậy đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu trên các bình diện khác nhau.Ănghen cho rằng: KL là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là điều kiện đảm bảo cho mọi hoạt động của bất kỳ cộng đồng, tổ chức nào diễn ra thành công.I Lênin cũng khẳng định: “Sự sản xuất tinh thần cũng biến đổi theo sự sản xuất vật chất, những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng là những tư tưởng của giai cấp thống trị.
Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị sử dụng KL như một thứ vũ khí, một công cụ, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình” [39, tr. “Tổ chức lao động xã hội của chế độ phong kiến dựa vào KL roi vọt, vào tình trạng ngu muội và khiếp nhược đến cùng cực của người lao động. Tổ chức lao động xã hội của chủ nghĩa tư bản dựa vào KL đói khát. Tổ chức lao động xã hội của chủ nghĩa cộng sản mà bước đầu là chủ nghĩa xã hội thì dựa vào sự tự giác, tự nguyện của những người lao động”.16] Trong lĩnh vực Xã hội học Erich Fromm cho rằng: “Không có KL, cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên chao đảo và thiếu tập trung.
Nếu hành động của chúng ta tùy theo tâm trạng và ý thích của mỗi người thì tất cả những điều đó không hơn gì một trò tiêu khiển và chúng ta sẽ chẳng bao giờ trở nên xuất sắc nếu ta không thực hiện những điều chúng ta đặt ra, những mục tiêu mà chúng ta hướng tới với tinh thần KL tự giác cao. Là một người lãnh đạo, để có thể “lãnh đạo” được người khác, hiển nhiên là chúng ta phải “lãnh đạo bản thân”, điều này chỉ thực hiện được khi chúng ta có TKL tự giác”. [79] Trong lĩnh vực giáo dục A. Macarenko cho rằng: “KL là tập hợp những quy tắc hành vi, những thói quen đã được hình thành ở con người thông qua quá trình giáo dục, nó là sản phẩm của toàn bộ quá trình giáo dục, bao gồm cả quá trình giảng dạy, giáo dục chính trị, quá trình hình thành tính cách, cọ xát và giải quyết xung đột trong tập thể” [47, tr.
Theo ông điều quan trọng nhất của KL chính là sự chấp hành những qui định, luật lệ cụ thể, từ đó dẫn tới hình thành một phẩm chất rất quan Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 11 trọng đó là năng lực chấp hành các yêu cầu của tổ chức, đây là nhân tố quyết định làm cho các chuẩn mực, qui tắc của mọi tổ chức được hiện thực hóa, đảm bảo cho hoạt động của tổ chức, của tập thể và cá nhân diễn ra theo một trật tự nhất định. Ở khía cạnh Tâm lý học V.Culacôp cho rằng “TKL là một phẩm chất gắn chặt với những phẩm chất khác của nhân cách. Bản chất của nó là khả năng điều chỉnh hành vi theo đúng yêu cầu của các điều lệ, các qui định…”[12, tr.Êvenmenco coi “TKL là sự thống nhất giữa sự hiểu biết, niềm tin và hành vi, có chứa đựng động cơ tích cực, được thực hiện nghiêm ngặt, chính xác. Nếu thiếu đi sự thống nhất của ba yếu tố này sẽ không thể có TKL”.Gordin [80] cho rằng: “TKL là phẩm chất tự điều khiển, điều chỉnh của nhân cách.
Nhờ phẩm chất này mà con người có được hành vi chấp hành nghiêm túc các quy định của tổ chức”.Dolinskaya đã đưa ra “cấu trúc của TKL như là hợp kim của kiến thức, thái độ, niềm tin, kỹ năng, kỹ xảo và thói quen” [81]. Ông cho rằng KL là thước đo giá trị và chất lượng cuộc sống và công cụ đảm bảo quyền lợi chính đáng của con người. Nhiều tác giả đã đề cập đến TKL có những khác biệt ở mỗi chế độ chính trị, trong chế độ xã hội chủ nghĩa KL là tự giác, nghiêm minh, dựa trên nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, bảo vệ lợi ích người lao động. Nhờ có TKL người lao động đoàn kết thống nhất thành một khối, chấp hành mọi nội qui, quy chế, tạo động lực thúc đẩy hoàn thành các công việc được giao.Macarenko kết luận: “Chỉ có quyền được gọi là người có TKL với những ai trong bất kỳ điều kiện nào cũng chọn hành vi đúng đắn có lợi nhất cho xã hội, mặc dù có gặp những khó khăn, trở ngại như thế nào đi nữa cũng khẳng định tiếp tục hành động đó đến cùng”[46].
Theo quan niệm này thì TKL là hành vi cá nhân mang lại lợi ích cộng đồng, thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể. Những nghiên cứu về giáo dục tính kỷ luật. Về giáo dục TKL C.Ănghen cho rằng: “Nhiệm vụ của chúng ta không chỉ là giáo dục cho con người có một thái độ đúng, mà còn giáo dục những thói quen hành vi đúng, đó là TKL”.Culacop khi nghiên cứu về vai trò của giáo dục TKL cho thanh niên, đã viết: “Phải làm cho các đối tượng giáo dục biến những yêu cầu, quy định có tính chất bắt buộc của cộng đồng xã hội thành yêu cầu của chính bản thân mình và việc thực hiện yêu cầu đó trở thành những điều cần thiết đối với mỗi cá nhân. Tác giả viết tiếp: “Giáo dục một hành vi đẹp, một thói quen tốt cho thanh niên theo đúng yêu cầu, điều lệ, mệnh lệnh của tổ chức, chỉ có thể làm được điều này trên cơ sở sự giác Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 12 ngộ, sự tin tưởng sâu sắc của họ vào sự đúng đắn của những điều lệ, mệnh lệnh…”.31] Nhấn mạnh vai trò của giáo dục TKL cho học sinh A.Macarenko cho rằng: “Sự rèn luyện TKL là một quá trình phức tạp, là kết quả chung của toàn bộ quá trình giáo dục” [47,tr.37] và KL tạo ra “Vẻ đẹp cho bộ mặt văn hóa của nhà trường”,“Trường học mà thiếu KL thì giống như cái cối xay nước mà không có nước” và nhiệm vụ của trường học là phải tìm ra những biện pháp giáo dục TKL cho học sinh, bởi vì “KL làm cho quá trình giáo dục tiến hành có kết quả và ngược lại KL là kết quả nỗ lực của cả tập thể học sinh trong các hoạt động hàng ngày…”.
Trong xã hội của chúng ta, KL là đạo đức. Tính vô KL hay sống không có KL là đi ngược lại với lợi ích của cộng đồng xã hội. Trẻ em cần được giáo dục để chúng hiểu rằng muốn học tập tu dưỡng tốt thì cần phải có TKL tốt.Cairop cho rằng giáo dục TKL trong nhà trường có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của học sinh. Do đó, muốn nâng cao hiệu quả dạy học phải chú ý đến việc rèn luyện TKL học tập cho học sinh.[10] Thomas Gordon trong tác phẩm “Giáo dục không trừng phạt” đã trích dẫn lời của Glasser: “Những nhà quản lý hiện đại là những người sẵn sàng chia sẻ quyền lực, ông đưa ra mô hình quản lý ủng hộ sự tham gia của học sinh, việc nhà quản lý, giáo viên và học sinh cùng ra quyết định và cùng giải quyết những vấn đề phát sinh là yếu tố chính hình thành và phát triển KL, trật tự, thông hiểu lẫn nhau”.137] Ân Thực Trước trong tác phẩm Bàn về KL tự giác đã có những đánh giá cao về vai trò của yết tố môi trường trong quá trình hình thành TKL cho học sinh.
Theo Ông: "Lớp học là môi trường chính yếu để giáo dục KL học tập cho học sinh. Việc xây dựng một chính sách, một nội quy lớp học thống nhất với sự tham gia của học sinh, trong đó phản ánh yêu cầu của việc giáo dục KL học tập cho học sinh, sẽ giúp hình thành KL tự giác, tích cực cho học sinh trong sinh hoạt và trong học tập".24] Duke và Perry cho rằng: “Học sinh sẽ tuân thủ KL tích cực hơn, tự giác hơn nhờ vào mối quan hệ hiểu biết lẫn nhau giữa thầy và trò, nhờ việc khuyến khích học sinh cùng tham gia vào việc điều hành nhà trường và nhờ vào hệ thống nội quy dân chủ. Tất cả đều do nhà quản lý”.Êvenmenko, tác giả tác phẩm “Hãy trở thành người chiến sĩ có KL”, đề cập tới những kinh nghiệm trong giáo dục, rèn luyện KL cho các chiến sĩ Xô viết, một trong những yếu tố tạo thành sức mạnh chiến đấu của quân đội cách mạng. Theo tác Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 13 giả, không có KL thì không thể trở thành quân đội, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, mỗi quân nhân cần hiểu rõ mình đang làm gì, cái gì đang thúc đẩy mình thực hiện theo yêu cầu nhiệm vụ đặt ra và công việc muốn thực hiện thắng lợi cũng phải nhờ vào việc chấp hành nghiêm KL.
Những nghiên cứu ở Việt Nam 1. Những nghiên cứu về giáo dục tính kỷ luật cho học sinh, sinh viên Ở nước ta các công trình nghiên cứu về giáo dục TKL lúc đầu tập trung vào các đối tượng học sinh phổ thông, sau là các đối tượng SV và học viên các trường quân sự. Năm 1991 trên tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục” có bài viết của tác giả Nghiêm Thị Phiến: “Hình thành TKL trong hoạt động học tập của học sinh lớp1 [50] và năm 1996 có bài: “Hình thành TKL trong hoạt động học tập cho học sinh cấp 2”.[51] Trong hai bài viết này, tác giả đã nêu lên đặc điểm và những biểu hiện của TKL của học sinh và từ đó đã đề xuất các biện pháp giáo dục TKL cho học sinh ở các lứa tuổi này. Năm 1994 Phạm Minh Hùng [31] có công trình nghiên cứu về “Các biện pháp giáo dục TKL trong hoạt động học tập trên lớp cho học sinh đầu bậc tiểu học”, tác giả cho rằng TKL học tập như là một phẩm chất nhân cách, một giá trị của học sinh tiểu học.
Tác giả đã nêu ra các thành phần cơ bản của TKL học tập, xác định cấu trúc của TKL, các yếu tố tạo thành TKL học tập và con đường hình thành phẩm chất này. Năm 2013 Vũ Thị Hương Lý [38], nghiên cứu về “Giáo dục TKL học tập cho SV Cao đẳng Sư phạm trong đào tạo học chế tín chỉ”, theo tác giả: trong điều kiện học tập theo tín chỉ thì TKL học tập là một tất yếu.