Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh trường THCS Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh các trường THCS Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của học sinh các trường THCS Quận Liên Chiểu, Thanh phố Đà Nẵng CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA, DANH GIA KET QUA HQC TAP MON THE DUC CUA HỌC SINH TRƯỜNG THCS 1. KHAI QUAT LICH SU VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Ở nước ngoài Hoạt động kiểm tra, đánh giá được hình thành khá sớm cùng với việc xuất hiện của xã hội loài người. Việc chọn người “phối ngẫu” trong các bộ lạc nguyên thuỷ có thể là loại kiểm tra, đánh giá sớm nhất.
Người tù trưởng qua “kiểm tra” có thể chọn cho mình các phối ngẫu ưng ý. Những kiểu thử như vậy, mà phương Tây gọi là test (trắc nghiệm) có thể xuất hiện sớm hơn phương Đông so với các dạng kiểm tra khác. Từ thế kỷ XVIII, việc nghiên cứu lý thuyết phương pháp trắc nghiệm khách quan đã được bắt đầu và đến đầu thế kỷ XIX đã được triển khai rộng. rãi ở các nước kinh tế phát triển như Anh, Pháp, Mỹ,.
Nhiều công trình nghiên cứu đo lường, đánh giá kết quả học tập đã được công bố: Erwin T. các tác giả nay di sâu vào phương pháp đo lường từng lĩnh vực của mục tiêu giáo dục, phân biệt rõ từng loại trắc nghiệm, xác định nguyên tắc xây dựng và sử dụng từng loại trắc nghiệm. Osterlind nghiên cứu về xây dựng câu trắc nghiệm. Về kĩ thuật xây dựng và sử dụng MCQ (Multiple Choice Questions: câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng nhiều lựa chọn) trong KTĐG và tự KTĐG.
Các bài KTĐG của họ được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Đã có nhiều công trình nghiên cứu quy trình xây dựng và lựa chọn cách xây dựng ngân hàng đề và sử dụng nó đề đảm bảo hiệu quả cao cho việc đo lường và đánh giá tuỳ theo yêu cầu của từng môn học và từng mục đích đánh giá. Ở Việt Nam Thời nhà Lý, thế kỷ XI - XIII thông qua các kỳ thi Hương để chọn tú tài, cử nhân; thi Hội để chọn Thái học sinh, phó bang, thi Dinh để chọn Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa với 3 hình thức cơ bản là thi văn, thi võ, thi Lại viên. Trong các kỳ thi này được quy định rất chặt chẽ nhiệm vụ của các lực lượng, sự thưởng phạt nghiêm minh.
Tuy nhiên, có nhiều phiền toái, gò bó, không phát huy hết khả năng sáng tạo của thí sinh. Bên cạnh đó, kết quả của các kỳ thi thi này hoàn toàn phụ thuộc vào sự nhận xét chủ quan của giám khảo. Thời kỳ Pháp thuộc, nền giáo dục Việt Nam mang tính nô dịch thuộc địa với chủ trương đào tạo một số ít người làm tay sai, còn đại đa số nhân dân là mù chữ (chính sách ngu dân đề dễ cai trị). ở thời kỳ này các kỳ thi tuyển được tô chức rất nghiêm túc và được bảo đảm bằng pháp luật, trung tâm khảo thí là đơn vị độc lập với Bộ Giáo dục.
Công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục luôn gắn liền với mục tiêu đào tạo của thực dân phong kiến. Từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến nay, hoạt động kiểm tra, đánh giá đã có nhiều biến đổi căn bản so với c độ xã hội cũ. Nền Giáo dục Việt Nam đã trải qua 3 lần cải cách, với mỗi lần đổi mới mục tiêu giáo dục - đào tạo được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình đất nước. Đặc biệt, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển giáo dục - đào tạo, hoạt động nghiên cứu kiểm tra, đánh giá, nghiên cứu công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá và đổi mới kiểm tra, đánh giá có những bước phát triển mới.
Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yêu cầu về quản lý nhằm nâng cao chất lượng kiêm tra, đánh giá, góp phan nang cao chat lượng dạy - học. Thời gian qua, một số luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục cũng đã nghiên cứu van dé nay nhưng còn rất ít. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA DE TÀI 1. Quản lý, quản lý giáo dục, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh a.
Quản lý Quản lý chính là một nghề, nó xị hiện từ rất sớm trong xã hội loài người. Nhung thuật ngữ “quản lý” được nhắc đến nhiều từ khi mà nhà lý luận quản lý kinh tế người pháp H. Ông cho rằng “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp kiểm tra”. Theo Mác “Quản lý là một chức năng tắt yếu của lao động xã hội nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp”.Kollova “Quản lý là sự tính toán sử dụng các nguồn lực hợp lý (nhân lực, vật lực) nhằm thực hiện các nhiệm vụ và đạt được kết quả tối ưu.
về kinh tế xã hội”. Thuật ngữ “Quản lý” (Tiếng Việt gốc hán) đã lột tả được bản chất hoạt động quản lý trong hoạt động thực tiễn. Nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau “quản” bao hàm coi sóc, giữ gìn, duy trì trạng thái én định, “lý” bao hàm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào hệ thống phát triển. Như vậy, để hoạt động quản lý có hiệu quả thì nên có sự cân bằng hoạt động giữa hai quá trình trên.
Theo Đặng Vũ Hoạt - Hà Thế Ngữ trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” đã nêu “Quản lý là một quá trình được định hướng, quá trình có mục tiêu. Quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thông mà người quản lý mong muốn”. [I1] Trong tập những bài giảng về quản lý trường học, tác giả Hà Sĩ Hồ cho rằng: “Quản lý là hoạt động có tiết tính định hướng (có chủ đích) có tổ chức, lựa chọn trong các hoạt động có thể có, dựa trên thông tin về tình trạng của 10 đối tượng, môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích ôn định”.
[12] Qua các khái niệm trên về quản lý có thẻ rút ra kết luận: Quán jý là một hoạt động mang tính hướng đích, có tổ chức, dưới tác động của nhà quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt đến mục tiêu định sẵn. Quan If giáo dục Co nil tác giả nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục cả trong nước, nước ngoài.V Khuđôminki (nhà lý luận Liên xô cũ), Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và mục đích của các chủ thê quản lý ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống (từ Bộ Giáo dục đến nhà trường) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm phát triển toàn diện và hài hoà của họ. Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: Quản lý giáo dục (cũng là khái niệm quản lý trường học): “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”. “Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động.
đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục”. “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức là tổ chức hoạt động dạy học, thực hiện các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam XHC| mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân”. [9] Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đây mạnh công I tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”. Bl Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là hệ ng những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thẻ quản lý (Bộ Giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.
[18] Quản lý giáo dục được hiểu theo hai nghĩa cụ thể: Theo nghĩa rộng: Quản lý giáo dục là quản lý mọi mặt hoạt động giáo dục trong xã hội. Quá trình đó bao gồm các hoạt động giáo dục và có tính giáo dục của bộ máy nhà nước, của các tổ chức xã hội, của hệ thống giáo duc quốc dân. Theo nghĩa hẹp: Quản lý giáo dục bao gồm “Quản lý hệ thống giáo dục” là hoạt động giáo dục và đảo tạo diễn ra trong các đơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh và toàn quốc) và “Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động giáo dục và đào tạo diễn ra trong các cơ sở giáo dục”. Quản lý giáo dục (Quản lý nhà trường) trong chế độ xã hội chủ nghĩa ở 'Việt Nam là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp theo quy luật của chủ thể quản lý (Hệ thống giáo dục) làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng và Nhà nước mà tiêu điểm hội tụ của nó là quá trình dạy học và giáo dục thế hệ trẻ đạt yêu cầu mong muốn của xã hội.
Quản lý giáo dục là yết ất quan trọng tác động đến chất lượng đào. tạo, là nhân tố quan trọng đề phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, từ đó, đưa đất nước phát triển bền vững. Trường học là tế bào cơ sở, chủ chốt để cầu thành hệ thống giáo dục quốc dân, trường học là thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý từ trung. ương đến địa phương và cũng là hệ thống tự quản độc lập của xã hội.