Tổng quan nghiên cứu

Khai thác khoáng sản giữ vai trò then chốt trong phát triển công nghiệp và hạ tầng, song cũng đặt ra bài toán phức tạp về bảo vệ môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên. Tính đến tháng 6/2020, toàn tỉnh Hòa Bình có 94 dự án khai thác khoáng sản còn hiệu lực giấy phép, trong đó huyện Lương Sơn tập trung tới 49 dự án, chiếm 54,25% tổng số dự án toàn tỉnh. Sự gia tăng nhanh chóng của các hoạt động khai khoáng đã mang lại nguồn thu ngân sách đáng kể với 516 tỷ đồng nộp ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2017-2019, đồng thời giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động. Tuy nhiên, tình trạng khai thác manh mún, công nghệ lạc hậu, nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và các tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường trên địa bàn huyện Lương Sơn, xác định các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện công tác này. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào cấp quản lý tỉnh và huyện đối với các mỏ khoáng sản trên địa bàn huyện Lương Sơn, sử dụng dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2017-2019 và số liệu điều tra thực địa từ tháng 6/2020 đến tháng 8/2020. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở khoa học quan trọng giúp địa phương tối ưu hóa nguồn thu ngân sách, bảo đảm an ninh trật tự và thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế kết hợp với lý thuyết kinh tế tài nguyên và môi trường trong bối cảnh phát triển bền vững. Quản lý nhà nước về khoáng sản được xác định là quá trình các cơ quan công quyền sử dụng quyền lực pháp lý, công cụ quy hoạch, chính sách tài chính và hoạt động thanh kiểm tra nhằm điều chỉnh các hành vi thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản. Khung lý thuyết của đề tài tập trung làm rõ ba khái niệm cốt lõi:

Thứ nhất, tài nguyên khoáng sản là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, mang tính chất hữu hạn và không thể tái tạo. Thứ hai, địa tô chênh lệch và lợi thế so sánh mỏ chi phối trực tiếp chi phí sản xuất và lợi nhuận của doanh nghiệp dựa trên vị trí địa lý cùng điều kiện địa chất. Thứ ba, tính rủi ro địa chất và tác động ngoại ứng tiêu cực đến môi trường đòi hỏi sự can thiệp chặt chẽ của chính quyền nhằm khắc phục các thất bại thị trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm bảo đảm tính khách quan và chiều sâu học thuật. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo giai đoạn 2017-2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình, Cục Thuế tỉnh, Ủy ban nhân dân huyện Lương Sơn và Niên giám thống kê địa phương. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa từ tháng 6/2020 đến tháng 8/2020 với cỡ mẫu gồm 40 đối tượng được chọn theo phương pháp chọn mẫu chủ đích.

Mẫu khảo sát bao gồm 30 chủ doanh nghiệp trong tổng số 40 doanh nghiệp đang trực tiếp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng trên địa bàn huyện (đạt tỷ lệ bao phủ 75%) và 10 cán bộ quản lý chuyên trách (02 cán bộ Sở Tài nguyên và Môi trường, 01 cán bộ Cảnh sát Môi trường, 03 cán bộ phòng ban chuyên môn cấp huyện và 04 công chức địa chính cấp xã). Việc lựa chọn phương pháp chọn mẫu chủ đích giúp nghiên cứu tiếp cận trực tiếp các chủ thể am hiểu sâu sắc thực tiễn cấp phép, thanh tra và chấp hành nghĩa vụ tài chính. Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích so sánh chuỗi thời gian và không gian, cùng phương pháp chuyên gia để xử lý dữ liệu qua phần mềm phân tích, lượng hóa rõ nét các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế, mức độ tuân thủ pháp luật và năng lực bộ máy quản lý.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Lương Sơn sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú bậc nhất tỉnh Hòa Bình với trữ lượng đá vôi trên 10 tỷ m3, đá bazan gần 900 triệu m3, đất sét 1.285 triệu m3 và hơn 1 triệu tấn quặng vàng. Địa bàn huyện có 48 tổ chức được cấp phép khai thác tại 49 điểm mỏ vật liệu xây dựng, trong đó chiếm ưu thế là 45 mỏ đá xây dựng thông thường với công suất thiết kế 8.902 nghìn m3/năm và 03 mỏ đá nguyên liệu xi măng công suất 356.552 m3/năm.

Thứ hai, hoạt động khai khoáng đóng góp đáng kể cho kinh tế địa phương. Giai đoạn 2017-2019, tổng doanh thu của các dự án khoáng sản đạt 1.027 tỷ đồng, mang lại nguồn thu ngân sách nhà nước 516 tỷ đồng. Tỷ trọng nộp ngân sách tăng trưởng vững chắc qua từng năm, từ 153 tỷ đồng năm 2017 lên 171 tỷ đồng năm 2018 và đạt 192 tỷ đồng năm 2019, tương ứng mức tăng 25,49% sau 3 năm.

Thứ ba, công tác bảo vệ môi trường và ký quỹ phục hồi môi trường đã được triển khai với tổng số tiền nộp lũy kế đạt 11,28 tỷ đồng trong 3 năm. Tuy nhiên, phần lớn các mỏ khai thác đá vôi vẫn hoạt động ở quy mô nhỏ và vừa, đầu tư công nghệ khai thác còn phân tán, việc chế biến cát nhân tạo từ đá vôi mới chỉ có 01 trên 04 đơn vị đi vào vận hành chính thức với công suất 25.620 m3/năm.

Thứ tư, hiệu quả giải quyết việc làm tại chỗ còn nhiều hạn chế. Năm 2019, ngành sản xuất vật liệu xây dựng thu hút 2.906 lao động (tăng 22,2% so với mức 2.378 lao động năm 2017), chiếm khoảng 20% lao động công nghiệp và dịch vụ nhưng chỉ chiếm 6,53% tổng lực lượng lao động 43.940 người của toàn huyện, với mức thu nhập bình quân khoảng 34 triệu đồng/người/năm.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bố dày đặc 49 điểm mỏ tập trung tại Lương Sơn bắt nguồn từ lợi thế giáp ranh thủ đô Hà Nội và các trục giao thông huyết mạch, tạo sức hút thương mại rất lớn cho vật liệu xây dựng. Sự gia tăng nguồn thu ngân sách từ 153 tỷ đồng lên 192 tỷ đồng chứng minh hiệu quả quản lý thu thuế tài nguyên và tiền cấp quyền khai thác ngày càng chặt chẽ. Dữ liệu này có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ cột kép so sánh doanh thu và mức đóng góp ngân sách, kết hợp bảng cấu trúc phân loại 20 khu vực cấm và tạm thời cấm hoạt động khoáng sản theo Quyết định 3081/QĐ-UBND nhằm bảo vệ cảnh quan như di tích Động Đá Bạc và Hang Trâu.

Tuy nhiên, việc đóng góp việc làm chỉ đạt 6,53% phản ánh hạn chế lớn trong chính sách sử dụng lao động bản địa. Sự phối hợp liên ngành giữa Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Thuế và chính quyền cấp xã đôi lúc còn thiếu đồng bộ, dẫn đến tình trạng khai thác vượt mốc giới và chậm hoàn thiện thủ tục đóng cửa mỏ. Kết quả này tương đồng với nhiều nghiên cứu quản trị tài nguyên tại các vùng ven đô, đòi hỏi chính quyền phải chuyển dịch trọng tâm từ cấp phép mở rộng sang kiểm soát chất lượng và chế biến sâu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch và siết chặt quy trình cấp phép. Cơ quan chuyên môn cần rà soát toàn diện 49 dự án mỏ hiện hữu, tích hợp chặt chẽ quy hoạch khoáng sản vào Quy hoạch tỉnh Hòa Bình thời kỳ 2021-2030 theo Luật Quy hoạch 2017. Ủy ban nhân dân tỉnh cần kiên quyết dừng hoạt động và thu hồi giấy phép đối với 100% các đơn vị khai thác manh mún gây suy thoái môi trường hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ ký quỹ phục hồi đất đai.

Thứ hai, nâng cao hiệu lực thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Thiết lập cơ chế phối hợp thường xuyên giữa Sở Tài nguyên và Môi trường, Cảnh sát Môi trường và Ủy ban nhân dân huyện Lương Sơn nhằm kiểm tra định kỳ và đột xuất tối thiểu 02 lần/năm đối với từng điểm mỏ. Tăng cường kiểm soát sản lượng khai thác thực tế qua hệ thống trạm cân và camera giám sát tại 40 mỏ đá đang hoạt động, xử phạt nghiêm các hành vi vượt ranh giới hoặc vi phạm an toàn lao động.

Thứ ba, thúc đẩy đổi mới công nghệ và phát triển kinh tế tuần hoàn. Khuyến khích các doanh nghiệp chuyển đổi từ khai thác thô sang công nghệ nghiền rửa tiên tiến, hỗ trợ 03 đơn vị còn lại nhanh chóng hoàn thiện dây chuyền sản xuất cát nhân tạo từ đá vôi đạt công suất trên 25.000 m3/năm, giúp nâng tỷ lệ thu hồi tài nguyên thêm khoảng 15-20% và giảm thiểu lượng phế thải đá mạt ra môi trường.

Thứ tư, minh bạch hóa nghĩa vụ tài chính và tái đầu tư an sinh xã hội. Cơ quan quản lý thuế duy trì mục tiêu tăng trưởng thu ngân sách từ khoáng sản tối thiểu 10%/năm, đồng thời đề xuất Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành cơ chế điều tiết, trích lại từ 15-20% nguồn thu tiền cấp quyền khai thác và phí bảo vệ môi trường để tái đầu tư trực tiếp vào hạ tầng giao thông, trường học và trạm y tế tại các xã chịu ảnh hưởng nặng nề bởi bụi và xe chở khoáng sản.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà quản lý và cơ quan hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện, bao gồm Ủy ban nhân dân huyện Lương Sơn, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng quy chế phối hợp liên ngành, chuẩn hóa quy trình thẩm định cấp phép và giám sát nghĩa vụ tài chính của 48 tổ chức khai thác mỏ.

Nhóm thứ hai là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng. Nghiên cứu giúp lãnh đạo 40 doanh nghiệp mỏ nhận diện rõ các yêu cầu pháp lý, quy chuẩn an toàn lao động, công tác ký quỹ phục hồi môi trường đạt chuẩn 11,28 tỷ đồng và lộ trình chuyển đổi công nghệ nghiền cát nhân tạo bền vững.

Nhóm thứ ba là các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế tài nguyên và Quản lý công. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp điều tra chọn mẫu 40 đối tượng thực địa và khung phân tích quản trị ngoại ứng tiêu cực từ khai khoáng vùng ven đô.

Nhóm thứ tư là các tổ chức đoàn thể xã hội và cộng đồng dân cư địa phương tại các khu vực mỏ. Báo cáo cung cấp các quy định pháp luật về khoanh định 20 khu vực cấm khai thác và mức trích ngân sách an sinh, giúp người dân nâng cao nhận thức và thực hiện quyền giám sát cộng đồng đối với các tác động môi trường.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Lương Sơn là địa bàn tập trung mật độ khai thác khoáng sản cao nhất tỉnh Hòa Bình?

Huyện Lương Sơn tập trung 49 dự án, chiếm 54,25% tổng số dự án mỏ toàn tỉnh nhờ sở hữu trữ lượng đá vôi khổng lồ trên 10 tỷ m3 và gần 900 triệu m3 đá bazan. Vị trí cửa ngõ tiếp giáp trực tiếp thủ đô Hà Nội tạo ra lợi thế vận tải và nhu cầu tiêu thụ vật liệu xây dựng rất lớn.

Nguồn thu ngân sách từ khoáng sản tại Lương Sơn giai đoạn 2017-2019 đạt mức bao nhiêu?

Tổng nộp ngân sách nhà nước từ các dự án khoáng sản trên địa bàn huyện trong 3 năm đạt 516 tỷ đồng trên tổng doanh thu 1.027 tỷ đồng. Nguồn thu tăng trưởng liên tục từ 153 tỷ đồng năm 2017 lên 171 tỷ đồng năm 2018 và đạt 192 tỷ đồng vào năm 2019.

Khai thác khoáng sản tại huyện giải quyết việc làm cho lao động địa phương ở mức độ nào?

Năm 2019, ngành sản xuất vật liệu xây dựng tạo việc làm cho 2.906 người với thu nhập bình quân khoảng 34 triệu đồng/người/năm. Mặc dù chiếm 20% lao động công nghiệp - dịch vụ, con số này mới chỉ đóng góp 6,53% vào tổng số 43.940 lao động toàn huyện.

Tỉnh Hòa Bình đã có biện pháp gì để khoanh vùng bảo vệ cảnh quan và di tích lịch sử tại Lương Sơn?

Tỉnh đã ban hành Quyết định 3081/QĐ-UBND phê duyệt 20 khu vực cấm và tạm thời cấm hoạt động khoáng sản. Tại Lương Sơn, các khu vực rừng phòng hộ, vùng rừng quân sự và danh thắng như Hang Trâu, Mái Đá Hiêm, Động Đá Bạc đều được bảo vệ nghiêm ngặt.

Phương pháp nghiên cứu của luận văn được thiết kế như thế nào để bảo đảm tính chuẩn xác?

Tác giả kết hợp dữ liệu thứ cấp 3 năm cùng khảo sát sơ cấp N = 40 theo phương pháp chọn mẫu chủ đích, phỏng vấn trực tiếp 30 chủ doanh nghiệp mỏ (chiếm 75% tổng số mỏ hoạt động) và 10 cán bộ quản lý từ cấp sở, huyện đến xã, giúp phản ánh toàn diện thực trạng.

Kết luận

  • Hoạt động khai thác khoáng sản tại Lương Sơn tập trung quy mô lớn với 49 dự án, khai thác nguồn tài nguyên dồi dào trên 10 tỷ m3 đá vôi phục vụ vật liệu xây dựng và sản xuất xi măng.
  • Hiệu quả kinh tế thể hiện rõ nét qua 1.027 tỷ đồng tổng doanh thu và 516 tỷ đồng đóng góp vào ngân sách nhà nước giai đoạn 2017-2019, đóng vai trò trụ cột thu ngân sách của huyện.
  • Hạn chế căn bản nằm ở quy mô khai thác còn manh mún, mức độ giải quyết việc làm cho lao động bản địa thấp (6,53%) cùng những thách thức lớn về kiểm soát bụi và ô nhiễm môi trường.
  • Luận văn đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, tập trung vào hoàn thiện quy hoạch 2021-2030, siết chặt thanh tra liên ngành trạm cân, hiện đại hóa công nghệ cát nhân tạo và cơ chế trích 15-20% nguồn thu cho hạ tầng dân sinh.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp trên địa bàn cần nhanh chóng áp dụng các khuyến nghị này trong giai đoạn tới để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái bền vững.