Hoàn thiện quản lý nhà nước về khoáng sản tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình

Luận văn phân tích thực trạng quản lý khoáng sản tại Lương Sơn, Hòa Bình, đánh giá hạn chế và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả

Nguyễn Thị Tâm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOÁNG SẢN

1.1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về khoáng sản

1.1.1. Tài nguyên khoáng sản

1.1.2. Quản lý Nhà nước về khoáng sản

1.2. Cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước về khoáng sản

1.2.1. Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về khoáng sản của một số địa phương trong nước

1.2.2. Bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản tại huyện Lương Sơn

1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Lương Sơn

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên

2.1.2. Đặc điểm kinh tế-xã hội

2.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Lương Sơn

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

2.2.2. Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu

2.2.3. Phương pháp phân tích số liệu

2.3. Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong đề tài

2.3.1. Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế của khai thác khoáng sản

2.3.2. Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả quản lý nhà nước

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện Lương Sơn và thực trạng khai thác khoáng sản vật liệu xây dựng ở huyện Lương Sơn

3.1.1. Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện Lương Sơn

3.1.2. thực trạng khai thác khoáng sản vật liệu xây dựng trên địa bàn huyện Lương Sơn

3.1.3. Đóng góp của hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Lương Sơn

3.2. Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản trên địa bàn huyện Lương Sơn

3.2.1. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước

3.2.2. Ban hành các văn bản quản lý thuộc thẩm quyền

3.3. Đánh giá chung về quản lý nhà nước về khoáng sản trên địa bàn huyện Lương Sơn

3.3.1. Kết quả đạt được

3.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân

3.4. Các yếu tố ảnh hưởng do khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Lương Sơn

3.4.1. Đánh giá của các đối tượng khảo sát

3.4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về khoáng sản

3.5. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khoáng sản trên địa bàn huyện Lương Sơn

3.5.1. Quan điểm, định hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khoáng sản trên địa bàn huyện Lương Sơn

3.5.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khoáng sản trên địa bàn huyện Lương Sơn

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Quản lý khoáng sản Lương Sơn Tổng quan thực trạng 2024

Huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, được xem là một trung tâm khoáng sản trọng điểm của khu vực, chiếm đến 54,25% tổng số dự án khai thác toàn tỉnh. Với vị trí địa lý thuận lợi và tiềm năng tài nguyên khoáng sản Hòa Bình dồi dào, đặc biệt là các loại vật liệu xây dựng thông thường (VLXDTT), công tác quản lý khoáng sản Lương Sơn đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Hoạt động khai khoáng, chủ yếu là khai thác đá Lương Sơn làm xi măng và vật liệu xây dựng, đã đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước, với tổng thu giai đoạn 2017-2019 đạt 516 tỷ đồng, đồng thời tạo việc làm cho hàng nghìn lao động. Tuy nhiên, bức tranh toàn cảnh cho thấy công tác quản lý vẫn còn nhiều bất cập, đòi hỏi một chiến lược hoàn thiện toàn diện. Sự tập trung quá lớn các mỏ khai thác tại một địa bàn cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về môi trường và an sinh xã hội. Việc khai thác khoágn sản tại Lương Sơn không chỉ phục vụ nhu cầu tại chỗ mà còn cung ứng cho các vùng lân cận, đặc biệt là thị trường Hà Nội. Do đó, hiệu quả quản lý nhà nước về khoáng sản tại đây có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của chuỗi cung ứng vật liệu xây dựng và sự phát triển bền vững của toàn vùng.

1.1. Tiềm năng tài nguyên khoáng sản huyện Lương Sơn Hòa Bình

Lương Sơn sở hữu trữ lượng khoáng sản lớn nhất tỉnh Hòa Bình. Nổi bật là đá vôi với trữ lượng ước tính trên 10 tỷ m³, đá bazan gần 900 triệu m³, và đất sét khoảng 1.285 triệu m³. Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào cho các ngành công nghiệp xi măng và sản xuất vật liệu xây dựng. Tính đến năm 2020, trên địa bàn có 49 mỏ được cấp phép, chủ yếu là khai thác đá làm VLXDTT với công suất lớn. Các doanh nghiệp khai khoáng Lương Sơn tập trung vào các sản phẩm chính như đá 1x2, đá mạt, đá Base và cát nhân tạo. Ngoài ra, huyện còn có tiềm năng về vàng và các khoáng sản kim loại khác, tuy nhiên việc khai thác còn nhỏ lẻ và gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý, dễ dẫn đến thất thoát tài nguyên.

1.2. Đóng góp của hoạt động khai khoáng vào kinh tế địa phương

Hoạt động khai thác khoáng sản là một trong những trụ cột kinh tế của Lương Sơn. Giai đoạn 2017-2019, tổng doanh thu từ các dự án đạt 1.027 tỷ đồng. Ngành này đã đóng góp vào ngân sách nhà nước 516 tỷ đồng thông qua thuế tài nguyên, phí môi trường và tiền cấp quyền khai thác. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đã tạo ra việc làm cho khoảng 2.665 lao động vào năm 2019, với thu nhập ổn định, góp phần cải thiện đời sống người dân. Tổng số tiền ký quỹ phục hồi môi trường sau khai thác đã nộp là 11,28 tỷ đồng, thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các vấn đề môi trường. Những con số này minh chứng vai trò quan trọng của ngành khai khoáng trong cơ cấu kinh tế của huyện.

II. 04 Thách thức lớn trong quản lý khoáng sản tại Lương Sơn

Mặc dù có những đóng góp tích cực, công tác quản lý khoáng sản Lương Sơn đang phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Vấn đề nhức nhối nhất là tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, đặc biệt là các loại khoáng sản có giá trị cao hoặc vật liệu san lấp. Việc quản lý lỏng lẻo đã gây thất thoát tài nguyên, làm ảnh hưởng đến môi trường và gây mất trật tự xã hội. Các hoạt động khai thác quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu không chỉ làm giảm hiệu quả kinh tế mà còn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn lao động trong khai khoáng. Thêm vào đó, hệ lụy về ô nhiễm môi trường do khai thác khoáng sản ngày càng rõ rệt, từ ô nhiễm bụi, tiếng ồn đến suy thoái chất lượng đất và nước, gây bức xúc trong cộng đồng dân cư. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý đôi khi còn thiếu đồng bộ, dẫn đến việc xử lý vi phạm chưa kịp thời và triệt để, tạo kẽ hở cho các hành vi sai phạm tiếp diễn. Những hạn chế này đòi hỏi cần có các giải pháp quyết liệt và đồng bộ từ các cấp chính quyền để đưa hoạt động khai khoáng đi vào nề nếp.

2.1. Thực trạng khai thác khoáng sản trái phép và thất thoát

Tình trạng khai thác khoáng sản không phép, khai thác vượt ranh giới, độ sâu cho phép vẫn còn diễn ra ở một số khu vực. Đặc biệt, việc khai thác đất san lấp và sét làm gạch thủ công thường khó kiểm soát, gây thất thu ngân sách và tác động xấu đến cảnh quan. Báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường Hòa Bình chỉ ra rằng, việc giám sát sản lượng thực tế tại các mỏ còn gặp nhiều khó khăn. Một số doanh nghiệp chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, báo cáo không trung thực. Đối với khoáng sản có giá trị cao như vàng, việc khai thác thủ công, trái phép không chỉ làm thất thoát tài nguyên quốc gia mà còn gây ra các vấn đề xã hội phức tạp và ô nhiễm nghiêm trọng do sử dụng hóa chất độc hại.

2.2. Tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội

Hoạt động khai thác khoáng sản đã và đang gây ra những tác động tiêu cực lớn. Bụi đá từ các mỏ khai thác đá Lương Sơn và các trạm nghiền sàng lan rộng, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân và cây trồng. Tiếng ồn từ nổ mìn và phương tiện vận tải gây phiền toái cho các khu dân cư lân cận. Nguồn nước mặt và nước ngầm có nguy cơ ô nhiễm do quá trình rửa vật liệu và nước thải mỏ chưa được xử lý triệt để. Bên cạnh đó, việc vận chuyển khoáng sản với tải trọng lớn làm hư hỏng nhiều tuyến đường giao thông, gây mất an toàn và tạo ra mâu thuẫn giữa doanh nghiệp khai khoáng Lương Sơn và cộng đồng địa phương.

2.3. Hạn chế trong bộ máy và cơ chế phối hợp quản lý

Bộ máy quản lý từ cấp tỉnh đến cấp xã đã được hình thành, tuy nhiên năng lực và nguồn lực còn hạn chế. Cán bộ cấp xã thường phải kiêm nhiệm, thiếu chuyên môn sâu về địa chất và khoáng sản. Cơ chế phối hợp giữa Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Công an tỉnh và chính quyền địa phương đôi khi còn chồng chéo, chưa thực sự hiệu quả. Công tác thanh tra khoáng sản được thực hiện định kỳ nhưng chưa đủ sức răn đe. Việc xử lý vi phạm đôi lúc còn chậm, chưa quyết liệt, dẫn đến tình trạng một số vi phạm tái diễn, làm giảm hiệu lực của công tác quản lý nhà nước về khoáng sản.

III. Giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý khoáng sản Lương Sơn

Để giải quyết các tồn tại, việc hoàn thiện thể chế và chính sách là giải pháp nền tảng. Trọng tâm là phải rà soát, điều chỉnh và bổ sung quy hoạch khoáng sản Lương Sơn cho phù hợp với thực tiễn phát triển và yêu cầu bảo vệ môi trường. Cần tuân thủ nghiêm ngặt Luật Khoáng sản 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Các văn bản quy phạm pháp luật do tỉnh ban hành cần được cập nhật thường xuyên để tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp, đồng thời tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Một trong những công cụ quan trọng là đẩy mạnh đấu giá quyền khai thác khoáng sản, đảm bảo sự công bằng, cạnh tranh và tối đa hóa nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Việc khoanh định rõ ràng các khu vực cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản vì lý do quốc phòng, an ninh, bảo vệ di tích, cảnh quan môi trường là yêu cầu cấp thiết. Hơn nữa, cần xây dựng một quy chế phối hợp liên ngành chặt chẽ hơn, quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, từ khâu cấp phép, giám sát đến xử lý vi phạm, nhằm tạo ra một hành lang pháp lý đồng bộ và hiệu quả.

3.1. Rà soát điều chỉnh quy hoạch khoáng sản Lương Sơn

UBND tỉnh Hòa Bình cần chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, đặc biệt là Sở Tài nguyên và Môi trường Hòa Bình, tiến hành rà soát tổng thể quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản trên địa bàn huyện Lương Sơn. Quá trình này phải đánh giá lại trữ lượng, chất lượng và hiệu quả kinh tế của từng khu mỏ. Cần kiên quyết loại bỏ khỏi quy hoạch những khu vực khai thác không hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc nằm gần khu dân cư, khu bảo tồn. Quy hoạch mới phải tích hợp các yêu cầu về phát triển bền vững, gắn khai thác với chế biến sâu và phục hồi môi trường sau khai thác.

3.2. Nâng cao hiệu quả đấu giá quyền khai thác khoáng sản

Việc tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản cần được thực hiện một cách công khai, minh bạch. Cần công bố rộng rãi thông tin về các khu vực mỏ, trữ lượng, điều kiện khai thác để thu hút nhiều nhà đầu tư có năng lực tham gia. Quy trình đấu giá phải chặt chẽ, tránh tình trạng thông thầu, quân xanh quân đỏ. Ưu tiên các doanh nghiệp có công nghệ khai thác tiên tiến, thân thiện với môi trường và có cam kết rõ ràng về trách nhiệm xã hội. Tăng cường hậu kiểm sau đấu giá để đảm bảo doanh nghiệp trúng thầu thực hiện đúng các cam kết đã đưa ra.

IV. 05 cách tăng cường hiệu quả thực thi quản lý khoáng sản

Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả thực thi là yếu tố quyết định thành công của công tác quản lý khoáng sản Lương Sơn. Cần tăng cường hoạt động thanh tra khoáng sản một cách đột xuất và thường xuyên, tập trung vào các điểm nóng về khai thác trái phép và các doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm. Ứng dụng công nghệ hiện đại như ảnh viễn thám, GIS, và hệ thống giám sát tự động để quản lý sản lượng khai thác và theo dõi biến động môi trường là một hướng đi tất yếu. Đồng thời, phải nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý các cấp, đặc biệt là cấp huyện và xã. Tăng cường đối thoại giữa chính quyền, doanh nghiệp và người dân để giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, đảm bảo hài hòa lợi ích. Cuối cùng, cần xử lý nghiêm minh, triệt để mọi hành vi vi phạm pháp luật về khoáng sản và môi trường, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, nhằm tạo sức răn đe và lập lại trật tự trong hoạt động khai khoáng.

4.1. Đẩy mạnh công tác thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm

Cần xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm và thực hiện các cuộc kiểm tra đột xuất dựa trên tin báo của người dân và thông tin giám sát. Nội dung kiểm tra phải toàn diện, từ việc tuân thủ giấy phép, thiết kế mỏ, thực hiện nghĩa vụ tài chính, đến công tác đảm bảo an toàn lao động trong khai khoáng và bảo vệ môi trường. Các quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải được thực hiện nghiêm túc. Đối với các vi phạm nghiêm trọng, tái diễn, cần xem xét áp dụng các biện pháp mạnh hơn như đình chỉ hoạt động hoặc thu hồi giấy phép theo quy định của Luật Khoáng sản 2010.

4.2. Ứng dụng công nghệ trong giám sát hoạt động khai khoáng

Việc lắp đặt trạm cân tại cửa mỏ và camera giám sát có kết nối trực tuyến với cơ quan quản lý là biện pháp hữu hiệu để kiểm soát sản lượng khai thác thực tế, chống thất thu thuế. Sử dụng công nghệ GIS để quản lý ranh giới các khu mỏ, chồng xếp bản đồ quy hoạch với hiện trạng sử dụng đất giúp phát hiện sớm các hành vi lấn chiếm, khai thác ngoài vị trí. Phân tích ảnh vệ tinh định kỳ có thể giúp theo dõi quá trình thay đổi bề mặt, đánh giá tiến độ phục hồi môi trường sau khai thác và phát hiện các điểm khai thác trái phép mới phát sinh ở những khu vực hẻo lánh.

4.3. Nâng cao vai trò giám sát của cộng đồng địa phương

Cộng đồng dân cư sống gần khu vực mỏ là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp và cũng là tai mắt quan trọng giúp cơ quan chức năng giám sát hoạt động của doanh nghiệp. Cần thiết lập các kênh thông tin chính thức, dễ tiếp cận (đường dây nóng, hộp thư tố giác) để người dân phản ánh các vi phạm. Tổ chức các buổi tham vấn cộng đồng trước khi cấp phép khai thác và công khai báo cáo đánh giá tác động môi trường. Việc tăng cường vai trò của cộng đồng không chỉ giúp ngăn chặn vi phạm mà còn thúc đẩy doanh nghiệp khai khoáng Lương Sơn thực hiện tốt hơn trách nhiệm xã hội của mình.

V. Hướng tới phát triển bền vững ngành khoáng sản Lương Sơn

Mục tiêu cuối cùng của công tác quản lý khoáng sản Lương Sơn là hướng tới phát triển bền vững. Điều này đòi hỏi sự cân bằng giữa ba yếu tố: hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Khai thác khoáng sản không thể chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt mà phải tính đến nguồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai. Do đó, cần khuyến khích các dự án áp dụng công nghệ khai thác, chế biến sâu để nâng cao giá trị tài nguyên, giảm thiểu chất thải. Công tác phục hồi môi trường sau khai thác phải được xem là một yêu cầu bắt buộc và được giám sát chặt chẽ. Nguồn thu từ khoáng sản cần được tái đầu tư hiệu quả vào cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội cho chính những địa phương bị ảnh hưởng. Xây dựng một ngành công nghiệp khai khoáng có trách nhiệm, minh bạch và bền vững là con đường duy nhất để tài nguyên khoáng sản thực sự trở thành động lực phát triển lâu dài cho Lương Sơn và Hòa Bình.

5.1. Gắn khai thác với chế biến sâu và sử dụng tiết kiệm

Nhà nước cần có chính sách khuyến khích, ưu đãi về thuế, tín dụng cho các doanh nghiệp khai khoáng Lương Sơn đầu tư vào công nghệ chế biến sâu. Thay vì chỉ bán vật liệu xây dựng thông thường dạng thô, cần sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn như cát nhân tạo chất lượng cao, bột đá siêu mịn. Đồng thời, cần áp dụng các biện pháp khai thác tiên tiến để tối đa hóa hệ số thu hồi khoáng sản, tận dụng triệt để các khoáng sản đi kèm, giảm thiểu lượng đất đá thải. Việc này không chỉ tăng hiệu quả kinh tế mà còn giảm áp lực lên môi trường.

5.2. Kế hoạch phục hồi môi trường sau khai thác một cách hiệu quả

Công tác phục hồi môi trường sau khai thác phải được lập kế hoạch ngay từ giai đoạn xin cấp phép dự án. Doanh nghiệp phải ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường với số tiền đủ lớn, sát với chi phí thực tế. Sở Tài nguyên và Môi trường Hòa Bình cần giám sát chặt chẽ tiến độ thực hiện theo phương án đã được phê duyệt. Các khu vực sau khi đóng cửa mỏ cần được cải tạo thành đất trồng cây, hồ điều hòa hoặc các công trình công cộng khác, trả lại cảnh quan và hệ sinh thái ban đầu. Việc thực hiện tốt công tác này sẽ giải quyết được những hệ lụy lâu dài của hoạt động khai khoáng, tạo ra sự đồng thuận trong xã hội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về khoáng sản trên địa bàn huyện lương sơn tỉnh hòa bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOÁNG SẢN 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về khoáng sản 1. Tài nguyên khoáng sản 1. Tài nguyên Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật chất, hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới của con người.

Tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người. Xã hội loài người càng phát triển, số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con người khai thác ngày càng tăng. Tài nguyên được phân loại theo các cách chủ yếu như sau: - Theo Nguồn gốc: Tài nguyên do con người tạo ra (Tài nguyên nhân tạo) và tài nguyên do thiên nhiên tạo ra/ ban tặng (Tài nguyên thiên nhiên). - Theo bản chất tự nhiên: Tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng, tài nguyên khí hậu cảnh quan, di sản văn hoá kiến trúc, tri thức khoa học và thông tin.

Tài nguyên thiên nhiên được chia thành hai loại: tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo. - Tài nguyên tái tạo (Rừng, biển, đất, nước, không khí….) là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý. Tuy nhiên, nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên tái tạo có thể bị suy thoái không thể tái tạo được. Ví dụ: tài nguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên đất có thể bị mặn hoá, bạc màu, xói mòn v.

- Tài nguyên không tái tạo: là loại tài nguyên Rừng, biển, đất, nước, không khí…. Ví dụ như tài nguyên khoáng sản của một mỏ có thể cạn kiệt 6 sau khi khai thác. Tài nguyên gen di truyền có thể mất đi cùng với sự tiêu diệt của các loài sinh vật quý hiếm. Khoáng sản Khoáng sản được hiểu một cách thông dụng nhất là những tích tụ tự nhiên các khoáng vật và đá có ích được con người khai thác, sử dụng.

Những nơi tập trung khoáng sản gọi là mỏ khoáng sản. Theo quan điểm địa chất thì: Khoáng sản là thành tạo khoáng vật của lớp vỏ Trái Đất, mà thành phần hóa học và các tính chất vật lý của chúng cho phép sử dụng chúng có hiệu quả và lợi ích trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất của nền kinh tế quốc dân. Theo Điều 2 Luật khoáng sản (Luật số 60/2010/QH12): “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ”. Như vậy, Luật Khoáng sản đã quy định rất rõ ràng và rộng rãi bao trùm lên các khái niệm khác về khoáng sản.

Phân loại tài nguyên khoáng sản Khoáng sản ở nước ta chia thành 4 nhóm sau: - Nhóm khoáng sản năng lượng, gồm: + Về dầu khí: Việt Nam có tiềm năng dầu khí đáng kể. Tiềm năng và trữ lượng dầu khí có khả năng thu hồi của các bể trầm tích Đệ tam của Việt Nam khoảng 4,300 tỷ tấn dầu quy đổi. + Than đá: Than biến chất thấp ở phần lục địa trong bể than sông Hồng tính đến chiều sâu 1.700m có tài nguyên trữ lượng đạt 36,960 tỷ tấn. Than biến chất cao phân bố chủ yếu ở các bể than Quảng Ninh, Thái Nguyên, sông Đà, Nông Sơn với tổng tài nguyên đạt trên 18 tỷ tấn.

7 + Urani: Ở Việt Nam đã phát hiện nhiều tụ khoáng urani ở Đông Bắc Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên. Tổng tài nguyên urani ở Việt Nam được dự báo trên 218. + Địa nhiệt: Việt Nam có nhiều nguồn nước nóng, ở phần đất liền có 264 nguồn có nhiệt độ là 300 C trở lên. Các nguồn nước nóng chủ yếu được phân bố ở Tây Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

(Nguồn: Lại Hồng Thanh, 2015, Quản lý nhà nước về khoáng sản, Bài giảng cho điều tra viên môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi Trường) - Nhóm khoáng sản kim loại: Việt Nam có nhiều loại khoáng sản kim loại có tài nguyên trữ lượng lớn tầm cỡ thế giới như: + Bauxit: Có 2 loại chủ yếu là diaspor và gibsit. Diaspor phân bố ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hải Dương và Nghệ An với tài nguyên trữ lượng đạt gần 200 triệu tấn. Gibsit phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên với trữ lượng đạt gần 2,1 tỷ tấn. + Đất hiếm: Ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở Tây Bắc Bộ với tổng tài nguyên trữ lượng đạt gần 10 triệu tấn đứng thứ 3 trên thế giới sau Trung Quốc (36 triệu tấn) và Mỹ (13 triệu tấn).

+ Quặng titan (Ilmenit): Quặng titan gốc ở Cây Châm, Phú Lương, Thái Nguyên có trữ lượng 4,83 triệu tấn ilmenit và tài nguyên đạt 15 triệu tấn. Quặng ilmenit trong vỏ phong hoá và sa khoáng ở các huyện Phú Lương và Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên với tài nguyên dự báo đạt 2,5 triệu tấn. Quặng titan sa khoáng ven biển phân bố rải rác từ Móng Cái đến Vũng Tàu có tiềm năng lớn, tài nguyên dự báo đạt hàng trăm triệu tấn. (nguồn: Lại Hồng Thanh, 2015, Quản lý nhà nước về khoáng sản, Bài giảng cho điều tra viên môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi Trường) - Nhóm khoáng chất công nghiệp: Các khoáng chất công nghiệp ở Việt Nam đã được đánh giá cao và nhiều mỏ đã được khai thác phục vụ cho các ngành nông, công nghiệp: 8 + Apatit: Phân bố dọc bờ phải sông Hồng, từ biên giới Việt Trung ở phía Bắc đến vùng Văn Bàn có tài nguyên là 2,5 tỷ tấn.

+ Barit: Phân bố chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam. Tổng tài nguyên dự báo đạt 25 triệu tấn (trong tụ khoáng Đông Pao, Lai Châu có 4 triệu tấn). + Graphit: Có ở Lào Cai, Yên Bái và Quảng Ngãi với tổng tài nguyên và trữ lượng đạt gần 20 triệu tấn. - Nhóm vật liệu xây dựng: Việt Nam có nhiều mỏ vật liệu xây dựng như: sét gạch ngói, sét xi măng, puzzolan, cát sỏi, đá vôi, đá hoa trắng, đá ốp lát, đá ong.

Ngoài các loại khoáng sản kể trên, từ năm 1987 chúng ta đã phát hiện nhóm đá quý ruby, saphir, peridot,. nhưng trữ lượng không lớn. Với nguồn tài nguyên khoáng sản đã biết thì có thể xếp nước ta vào hàng các nước có tiềm năng khoáng sản đáng kể và phân bố không đồng đều ở các địa phương. Đặc điểm của khoáng sản Để làm rõ vấn đề Quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên khoáng sản cũng cần đánh giá đầy đủ những đặc điểm chung cũng như đặc điểm riêng của tài sản “khoáng sản”, các đặc điểm này đó là: - Tính hữu hạn, không tái tạo.

Khoáng sản được hình thành tích tụ trong quá trình hoạt động địa chất rất lâu dài hàng triệu năm trước đó và không phải là vô hạn. Hầu hết các loại khoáng sản (trừ một số loại khoáng sản như nước khoáng, nước nóng thiên nhiên) khi đã được khai thác để sử dụng đều “không thể tái tạo”. Chính vì vậy, khi khai thác, sử dụng khoáng sản trong từng thời kỳ cần cân nhắc kỹ để tối đa hóa lợi ích phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trước mắt cũng như lâu dài. Nói cách khác, khoáng sản phải được khai thác, sử dụng triệt để, hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả cao nhất.

9 - Tính rủi ro địa chất. Khi đầu tư kinh doanh vào bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có những rủi ro ở mức độ nhất định. Tuy nhiên, đầu tư vào lĩnh vực khoáng sản có mức độ rủi ro cao hơn bởi có một rủi ro khác xuất phát từ đặc điểm của loại tài sản này. Mỏ khoáng sản là thực tại khách quan, nằm ngoài ý muốn của con người.

Khi thực hiện các hoạt động như điều tra, đánh giá, thăm dò khoáng sản là con người mong muốn có các thông tin đầy đủ hơn về mỏ khoáng sản đó trước khi đầu tư khai thác. Tuy nhiên, trong thực tế, kể cả trong trường hợp một mỏ khoáng sản đã được thăm dò tỉ mỉ thì vẫn có những khu vực không có công trình thăm dò, khi khai thác sự thay đổi chiều dày, hàm lượng v.v… và chất lượng, thậm chí không có quặng nằm ngay tại những khu vực này. Đây chính là tính “rủi ro địa chất” của khoáng sản (nằm ngoài ý muốn của con người). Tính rủi ro địa chất của các loại khoáng sản khác nhau cũng khác nhau.

Thường khoáng sản quý, hiếm có mức độ rủi ro cao hơn. Ngược lại, những loại khoáng sản thông thường như khoáng sản làm vật liệu xây dựng có độ rủi ro thấp hơn. Khoáng sản có độ rủi ro càng cao về địa chất thì mức độ đầu tư cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò cũng càng lớn và ngược lại. Đây là đặc điểm cần quan tâm của khoáng sản không giống với các loại tài sản hữu hình khác.

- Lợi thế so sánh. Tương tự như đối với một số loại tài nguyên thiên nhiên khác như tài nguyên đất, tài nguyên rừng, khi đầu tư khai thác cùng loại khoáng sản nhưng mỏ có vị trí thuận lợi, có điều kiện địa chất - mỏ thuận lợi hơn thì cũng có lợi thế hơn (chi phí sản xuất thấp hơn, có lợi nhuận cao hơn lợi nhuận trung bình) so với các mỏ có điều kiện khó khăn, phức tạp. Trường hợp này cũng tương tự như trong nông nghiệp khi sản xuất trên mảnh đất có điều kiện tự nhiên khác nhau mà thường được gọi là “địa tô chênh lệnh”. Lợi thế so sánh phụ thuộc vào đặc điểm mỏ khoáng sản, thay đổi theo thời gian, không gian cũng như sự phát triển của trình độ khoa học - công nghệ khai thác, chế biến loại khoáng sản đó.

Cùng một loại khoáng sản, cùng một điều 10 kiện địa chất mỏ như nhau, nhưng mỏ có vị trí địa lý thuận lợi (gần đường giao thông chính, gần các yêu cầu phải đáp ứng như: tài nguyên nước, lao động v.) thì sẽ có chi phí thấp hơn, sinh ra lợi nhuận cao hơn so với một mỏ khoáng sản cùng loại nhưng có vị trí không thuận lợi, nằm ở vùng sâu, vùng xa, hạ tầng cơ sở vật chất, xã hội thấp kém v. - Quan hệ hữu cơ với tài nguyên đất. Khoáng sản luôn gắn liền và có quan hệ hữu cơ với tài nguyên đất. Khi khai thác khoáng sản luôn phải sử dụng một diện tích đất mặt nhất định, kể cả khi khai thác khoáng sản bằng phương pháp hầm lò.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ