Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 1. Cơ sở lý luận về khoáng sản và quản lý khai thác khoáng sản 1. Khái quát chung về khoáng sản 1. Khái niệm Theo Luật Khoáng sản năm 2010, “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ”.
Khoáng sản cũng có thể được hiểu là nguồn nguyên liệu tự nhiên có trong nguồn gốc vô cơ hoặc hữu cơ, tuyệt đại bộ phận nằm trong lòng trái đất và quá trình hình thành có liên quan mật thiết đến quá trình lịch sử phát triển của vỏ trái đất trong thời gian dài từ hàng ngàn năm đến hàng chục năm, hàng triệu năm. Đặc điểm khoáng sản Việt Nam Theo Lại Hồng Thanh (2009) tài nguyên khoáng sản của nước ta có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, nước ta không có tiềm năng lớn về các khoáng sản năng lượng. Dầu khí chỉ đảm bảo khai thác được khoảng 30 năm nữa, do vậy cần tăng cường tìm kiếm thăm dò khai thác. Than biến chất cao với trữ lượng đã được đánh giá đạt hàng tỷ tấn cần phải khai thác sâu hàng trăm mét và hơn nữa mới bảo đảm nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước.
Than biến chất thấp ở dưới sâu đồng bằng Sông Hồng tuy dự báo có tài nguyên đến vài trăm tỷ tấn nhưng độ sâu hàng ngàn mét dưới lòng đất, điều kiện khai thác cực kỳ khó khăn và phức tạp cả về công nghệ, an ninh xã hội và môi trường. Tiềm năng Urani và địa nhiệt không đáng kể và chưa được thăm dò để đánh giá cụ thể. Thứ hai, nước ta có nhiều khoáng kim loại nhưng trữ lượng không nhiều. Rất nhiều khoáng sản kim loại (vàng, bạc, đồng, thiếc, kẽm, chì.) thế giới rất cần trong khi trữ lượng lại có hạn, chỉ khai thác mấy chục năm là cạn kiệt nên 9 không đảm bảo tiêu dùng trong nước phục vụ cho phát triển kinh tế.
Một số ít khoáng sản như Bauxit, đất hiếm, ilmenit có trữ lượng lớn nhưng các khoáng sản này trên thế giới các quốc gia khác cũng có trữ lượng tương đương hoặc lớn hơn nước ta. Trữ lượng Bauxit trên thế giới là 27 tỉ tấn với sản lượng khai thác hàng năm khoảng 200 triệu tấn. Đất hiếm trên thế giới đạt 99 triệu tấn, nhu cầu hàng năm chỉ khoảng 125. Trữ lượng Titan trên thế giới đạt hơn 2 tỷ tấn, hàng năm thế giới tiêu thụ hơn 6 triệu tấn titan và dự báo khoảng 128 năm nữa thế giới sẽ khai thác hết.
Thứ ba, nước ta có nhiều khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng phục vụ tốt cho phát triển kinh tế đất nước và có thể xuất khẩu. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này không có giá trị kinh tế cao. Thứ tư, các loại khoáng sản quý có giá trị kinh tế cao như đá quý, ruby, kim cương. chưa xác định rõ trữ lượng, các loại đá quý khác cũng chưa được khảo sát và phát hiện.
Phân loại khoáng sản Theo Lại Hồng Thanh (2009) có nhiều cách để phân loại tài nguyên khoáng sản, thông thường, người ta phân loại theo các tiêu chí sau: Phân loại theo nguồn gốc: Nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất), ngoại sinh (sinh ra trên bề mặt trái đất). Phân loại theo mục đích, công dụng và thành phần hóa học:nhiên liệu(dầu mỏ, khí đốt, than, đá cháy); khoáng sản kim loại (kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý hiếm); khoáng sản phi kim (vật liệu khoáng, đá quý, vật liệu xây dựng). Phân loại dựa trên trạng thái vật lý: Khoáng sản rắn (kim loại, phi kim và đá màu, đá quý); khoáng sản lỏng (dầu mỏ, nước khoáng, nước nóng.); khoáng sản khí (khí đốt và khí trơ). Vai trò của khoáng sản - Tài nguyên khoáng sản là một yếu tố nguồn lực quan trọng của quá trình sản xuất.
10 - Tài nguyên thiên nhiên khoáng sản là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, các nước đang phát triển thường quan tâm đến việc xuất khẩu sản phẩm thô, đó là những sản phẩm được khai thác trực tiếp từ nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước, chưa qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế. Nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng là cơ sở để phát triển các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, công nghiệp chế biến, công nghiệp năng lượng, công nghiệp vật liệu xây dựng. - Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở tạo tích lũy vốn và phát triển ổn định. Sự giàu có về tài nguyên, đặc biệt về năng lượng giúp cho một quốc gia ít lệ thuộc hơn vào các quốc gia khác và có thể tăng trưởng một cách ổn định, độc lập khi thị trường tài nguyên thế giới rơi vào tình thái bất ổn.
Tài nguyên khoáng sản còn tham gia vào thương mại quốc tế. Nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới, nhờ xuất khẩu khoáng sản, cho thuê đất cũng mang lại nguồn thu đáng kể cho đất nước. - Ngành khai khoáng cũng có cơ hội phát triển và tham gia vào thương mại, đầu tư quốc tế, tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa về phương diện chính trị. Các quốc gia ít có tài nguyên khoáng sản sẽ ở vào thế kém độc lập, tự chủ hơn trong giao lưu quốc tế, thường lệ thuộc về cả kinh tế và chính trị đối với các quốc gia có ưu thế về vấn đề này.
Khai thác khoáng sản 1. Khái niệm về khai thác khoáng sản Theo Luật khoáng sản năm 2010, khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan. Khai thác khoáng sản là hoạt động được tiến hành sau khi đã có giấy phép khai thác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được tính từ khi mỏ bắt đầu xây dựng cơ bản (hay còn gọi là mở mỏ) cho đến khi mỏ kết thúc khai thác (đóng cửa mỏ - phục hồi môi trường). Các quy định, nguyên tắc trong khai thác khoáng sản Luật Khoáng sản 2010 [14] và Nghị định hướng dẫn thi hành quy định tương đối chặt chẽ về chủ thể và hoạt động khai thác khoáng sản.
Theo quy định tại Điều 51 Luật Khoáng sản 2010, điều kiện cần để có thể trở thành chủ thể khai thác khoáng sản gồm hai yêu cầu sau: Là tổ chức (doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật hợp tác xã) hoặc hộ kinh doanh. Có đăng ký kinh doanh ngành nghề khai thác khoáng sản Trong đó hộ kinh doanh đăng ký kinh doanh ngành nghề khai thác khoáng sản chỉ được khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, khai thác tận thu khoáng sản. Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có đăng ký kinh doanh ngành nghề khai thác khoáng sản: + Có dự án đầu tư khai thác khoáng sản ở khu vực đã thăm dò, phê duyệt trữ lượng phù hợp với quy hoạch. Dự án đầu tư khai thác khoáng sản phải có phương án sử dụng nhân lực chuyên ngành, thiết bị, công nghệ, phương pháp khai thác tiên tiến phù hợp; đối với khoáng sản độc hại còn phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép bằng văn bản; + Có báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; + Có vốn chủ sở hữu ít nhất bằng 30% tổng số vốn đầu tư của dự án đầu tư khai thác khoáng sản.
Đối với hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh ngành nghề khai thác khoáng sản: + Có dự án đầu tư khai thác khoáng sản ở khu vực đã thăm dò và phê duyệt trữ lượng phù hợp với quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản tỉnh, thành phố nơi có khoáng sản. Dự án đầu tư khai thác khoáng sản phải có phương án sử dụng nhân lực chuyên ngành, thiết bị, công nghệ, phương pháp khai thác phù hợp. 12 + Có bản cam kết bảo vệ môi trường được xác nhận theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. + Có vốn chủ sở hữu ít nhất bằng 30% tổng số vốn đầu tư của dự án đầu tư khai thác khoáng sản.
+ Quy mô công suất khai thác không quá 3.000 m3 sản phẩm là khoáng sản nguyên khai/năm. Quản lý hoạt động khai thác khoáng sản 1. Khái niệm về quản lý hoạt động khai thác khoáng sản Theo PhạmHồng Sơn và Phan Huy Đường (2013), Quản lý khai thác khoáng sản là một bộ phận của quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản, thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường. Quản lý nhà nước về hoạt động khai thác khoáng sản là sự tác động có định hướng, có tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước đến các tổ chức, cá nhân và các hoạt động khai thác khoáng sản của họ nhằm đạt mục tiêu đã xác định thông qua việc áp dụng các nguyên tắc, công cụ và biện pháp quản lý phù hợp với điều kiện môi trường, hoàn cảnh kinh tế - xã hội cụ thể trong từng giai đoạn.
Mục tiêu của quản lý nhà nước đối với hoạt động khoáng sản nhằm khai thác lợi thế của quốc gia phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đảm bảo giữ gìn, bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Đồng thời hạn chế và tiến tới xoá bỏ những bất cập, tác động tiêu cực của hoạt động khai thác khoáng sản tràn lan, lãng phí tài nguyên quốc gia và hủy hoại môi trường, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và đời sống con người. Ý nghĩa của quản lý hoạt động khai thác khoáng sản Quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản có những ý nghĩa như sau: - Giúp thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương: Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội là cái đích cần đạt tới của quản lý nhà nước. Để đạt được mục tiêu tổng thể chung, Nhà nước (chủ thể quản lý) phải đặt ra mục tiêu cụ thể đối với từng lĩnh vực quản lý.
Mục tiêu quản lý này không phải bất 13 biến mà mỗi giai đoạn phát triển có những mục tiêu quản lý riêng, phù hợp. Hiệu quả kinh tế - xã hội được thể hiện qua các chỉ tiêu về thu ngân sách, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống người lao động và tái phân phối lợi tức xã hội. Để đạt mục tiêu trên đòi hỏi công tác quản lý của nhà nước phải chặt chẽ để việc khai thác khoáng sản đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả.