Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lí luận Công tác GPMB là việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế. Theo điều 4 Luật Đất đai 2003: * Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.
* Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di chuyển đến địa điểm mới. * TĐC là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống và làm ăn. TĐC bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển. TĐC được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất, tinh thần tại đó.
Như vậy, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung. Tái định cư khi người sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, ngày 13/8/2009 của Chính Phủ, mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau: + Bồi thường bằng nhà ở. + Bồi thường bằng giao đất mới. + Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới.
GPMB là giải pháp quan trọng mang tính đột phá nhằm chủ động quỹ đất, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển và triển khai thực hiện các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Quá n 5 trình thực hiện GPMB phải đảm bảo hài hoà các lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp và đặc biệt là lợi ích của người dân. Những nhà quản lý đã ý thức được rất sớm việc bồi thường thiệt hại cho người bị thu hồi đất, đã có những văn bản quy định, hướng dẫn việc thực hiện từ những thập kỷ 60 của thế kỷ trước. Đến nay tổng kết lại công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cũng đã đạt những hiệu quả nhất định, giải quyết được rất lớn mặt bằng cho công cuộc xây dựng đất nước hiện đại.
Đẩy nhanh công cuộc CNH- HĐH, bên cạnh đó vẫn đảm bảo quyền và lợi ích của người bị thu hồi đất, giúp sử dụng tiết kiệm và đúng mục đích quỹ đất hiện có. Đã thể hiện được tính toàn diện của các chính sách bồi thường, hỗ trợ, quy đinh rõ ràng về trình tự thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phù hợp với Hiến pháp và các văn bản luật. Bên cạnh những mặt đã đạt được trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là những công trình, các khu công nghiệp, những hạng mục công trình lớn được triển khai xây dựng, đóng góp vào công cuộc cải cách đất nước thì tại nhiều địa phương có nhiều dự án được triển khai không đạt tiến độ với nguyên nhân chủ yếu vướng mắc về GPMB. Có những dự án không thể tiếp tục triển khai công tác GPMB do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Những nguyên nhân vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chủ yếu tập trung vào chế độ, chính sách chưa thực sự thể hiện tính thực tế khách quan, đồng bộ, chưa thể hiện được cả 03 lợi ích: Nhà nước, Chủ đầu tư và người dân. Trong xây dựng chế độ, chính sách tại một số địa phương chưa bám sát với quy định của Chính phủ đã đề ra. Xây dựng giá bồi thường, hỗ trợ chưa sát với giá thị trường, chính sách đào tạo nghề sau khi thu hồi đất của người nông dân chưa thoả đáng không đáp ứng được mong mỏi của người dân. Quy trình thực hiện còn rườm rà cần được rút gọn lại.
Tại một số dự án lớn, trọng điểm tình trạng nhân dân bức xúc khiếu kiện kéo dài vẫn thường xuyên xảy ra gây mất ổn định về chính trị, xã hội. Cơ sở pháp lý + Luật Đất đai 2003 (Luật Đất đai) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003. Luật Đất đai có 7 Chương 146 Điều; trong đó có 7 điều (từ Điều 38 đến n 6 Điều 44) quy định về cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. [14] + Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003, có 16 Chương 186 Điều nhằm cụ thể hóa một số quy định của Luật Đất đai.
Trong đó, có 3 điều (Điều 35, 36 và 45) quy định về cơ chế thu hồi đất; chính sách bồi thường đối với diện tích đất ở của hộ gia đình, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận trước ngày NĐ 181/2004/NĐ-CP có hiệu lực thi hành nhưng sau khi được xác định lại theo quy định tại khoản 1 Điều 45 của NĐ 181/2004/NĐ-CP mà có diện tích lớn hơn diện tích đất ở ghi trên giấy chứng nhận đã cấp; xử lý tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư trên đất trong trường hợp thu hồi đất quy định tại các Khoản 2 đến Khoản 12 Điều 38 của Luật Đất đai.[6] + Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Nội dung của Nghị định gồm 4 nhóm vấn đề chủ yếu sau: Quy định đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Nghị định; quy định bồi thường đất; quy định bồi thường tài sản; quy định chính sách hỗ trợ, tái định cư.[7] + Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty Nhà nước thành công ty cổ phần.[9] + Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, giải quyết khiếu nại về đất đai.[10] + Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.[11] Căn cứ Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 23/3/2006 về thi hành luật bảo vệ và phát triển rừng.[8] Căn cứ Luật đất đai số: 45/2013/QH13, của Quốc hội. n 7 Căn cứ Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 về quy định bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. [12] Căn cứ Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai [13] Căn cứ Thông tư số 38/2007/TT - BNN ngày 25/4/2007 của bộ Nông nghiệp và PTNT về hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, thu hồi rừng.[1] Căn cứ Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 11/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất.[3] Căn cứ Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/6/2009 của bộ Nông nghiệp và PTNT về việc quy định tiêu trí xác định và phân loại rừng.[2] Căn cứ vào thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/06/2014 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
[4] Căn cứ Thông tư số 74/2015/TT-BTC ngày 15 tháng 5 năm 2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất .[5] Căn cứ Quyết định số 178 /2001/QĐ- TTg ngày 12/11/2001 Về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đát lâm nghiệp của thủ tường Chính phủ.[16] Quyết định số: 4476/2008/QĐ-UBND ngày 29/12/2008 của UBND tỉnh Hà Giang, ban hành bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Hà Giang năm 2009.[23] Quyết định số: 5480/2009/QĐ-UBND ngày 22/12/2009 của UBND tỉnh Hà Giang, ban hành bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Hà Giang năm 2010.[24] Quyết định số: 4064/2010/QĐ-UBND ngày 20/12/2010 của UBND tỉnh Hà Giang, ban hành bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Hà Giang năm 2011.[26] Quyết định số: 211/2012/QĐ-UBND ngày 16/02/2012 của UBND tỉnh Hà Giang, ban hành bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Hà Giang năm 2012.[29] n 8 Quyết định số: 2843/2012/QĐ-UBND ngày 29/12/2012 của UBND tỉnh Hà Giang, ban hành bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Hà Giang năm 2013.[31] Quyết định số: 2987/2013/QĐ-UBND ngày 20/12/2013 của UBND tỉnh Hà Giang, ban hành bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Hà Giang năm 2014.[32] Quyết định số: 2568/2008/QĐ-UBND ngày 11/8/2008 của UBND tỉnh Hà Giang về việc quy định mức giá và phương pháp tính bồi thường về tài sản là vật kiến trúc, cây cối hoa mầu, thủy sản gắn liền với đất khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hà Giang.[22] Quyết định số: 1152/2010/QĐ-UBND ngày 22/4/2010 của UBND tỉnh Hà Giang về việc quy định mức bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hà Giang.[25] Quyết định số: 1129/2012/QĐ-UBND ngày 13/6/2012 của UBND tỉnh Hà Giang về việc quy định mức bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hà Giang.[28] Căn cứ công văn số 2020/ UB -NLN ngày 11/5/2006 của UBND tỉnh Hà Giang về việc chỉ đạo một số nôi dung đối với khai thác gỗ và lâm sản của UBND tỉnh Hà Giang.[21] Căn cứ Quyết định số 111/QĐ-UBND ngày 19/1/2011 của UBND tỉnh Hà Giang về việc thu hồi rừng, giao rừng và chuyển mục đích sử dụng rừng.[27] Căn cứ Quyết định số: 1045/QĐ-UBND ngày 04/6/2013, phê duyệt phương án bồi thường rừng. [30] Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang. Niên giám thống kê 2014 huyện Bắc Mê.