Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Thực trạng hoạt động khai thác khoáng sản trên Thế giới và Việt Nam 1. Trên Thế giới Hoạt động khai thác khoáng sản đã phát triển mạnh từ thập kỷ trước ở nhiều quốc gia giàu tài nguyên như Nga, Mỹ, Australia, Campuchia, Indonesia, Phillipines, Trung Quốc, Ấn Độ, … nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng nguyên liệu khoáng của thế giới như quặng sắt, chì, kẽm, thiếc, than đá, đồng và các loại khoáng sản khác, mặc dù khai thác khoáng sản là nguồn thu quan trọng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia, nhưng ngành này cũng gắn liền với những tác động môi trường và xã hội nghiêm trọng, đặc biệt là hiện tượng mất đất canh tác, xói lở, suy thoái tài nguyên rừng và nguồn nước.
Do đặc thù, nên ngành khai thác khoáng sản là ngành sử dụng diện tích đất rất lớn. Hoạt động khai thác khoáng sản dẫn tới suy thoái tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước là rất lớn. Các phương pháp khai thác mỏ hiện nay như nổ mìn hoặc khoan đều rất thô sơ. Tác động môi trường tiêu cực từ khai mỏ thường xảy ra ngay trong chính bản thân quá trình khai thác và các hoạt động liên quan như dọn mặt bằng mỏ, vận chuyển và chế biến quặng.
Suy thoái rừng và ô nhiễm nước do khai thác khoáng sản không chỉ tác động tới HST mà còn tác động tới sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên này. Điều đáng tiếc là các công ty khai khoáng ở các nước đang phát triển trên thế giới đều rất ít quan tâm đến tác động môi trường. Vấn đề này lại càng trở nên trầm trọng hơn bởi một thực tế là thỏa thuận khai thác khoáng sản giữa chính phủ và các doanh nghiệp còn thiếu minh bạch, và nỗ lực nhằm kiểm soát nghiêm minh các hoạt động khai khoáng còn bị làm ngơ do sức hấp dẫn của lợi nhuận mang lại. Những khu vực bị tàn phá do khai thác thường bị bỏ quên, và tổn hại môi trường hầu như không thể ngăn chặn được.
n -5- Sự phát triển của các ngành khai thác khoáng sản không đồng bộ với biện pháp bảo vệ, cải tạo, phục hồi môi trường đã để lại những hậu quả suy thoái môi trường tại các khu vực khai thác khoáng sản: - Một diện tích lớn đất nông nghiệp, lâm nghiệp trước đây bị chiếm dụng cho mục đích khai thác khoáng sản vẫn để hoang hóa sau khi khai thác. - Tầng đất mặt bị xáo trộn gây khó khăn cho việc hoàn thổ, phục hồi môi trường sau khai thác. - Cân bằng nước khu vực bị phá vỡ, gia tăng các hiện tượng trượt lở, bồi lấp, tích tụ các chất rắn do sự biến đổi chế độ thủy văn của dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm. - Làm suy thoái thảm thực vật, suy giảm diện tích rừng, cạn kiệt trữ lượng gỗ,… - Chất lượng nước ở các vùng khai thác khoáng sản bị ảnh hưởng.
Phần lớn nước ở các vùng khai thác khoáng sản đều bị ảnh hưởng bởi độ đục cao do lượng bùn mịn trong nước thải cao. Các loại thuốc tuyển còn dư trong bùn thải cũng có khả năng gây ô nhiễm nguồn tiếp nhận. ở một số khu vực đất đá thải còn có tiềm năng hình thành dòng axit mỏ có khả năng hòa tan các kim loại nặng độc hại là nguồn ô nhiễm tiềm tàng đối với nước mặt và nước ngầm khu vực. - Các sự cố và rủi ro môi trường tại các vùng khai thác như trượt lở, sập hầm… Ở các nước có ngành công nghiệp khai thác mỏ phát triển như Anh, Thụy Điển, Australia, … và một số nước khác trong khu vực như Malaysia, Indonesia vấn đề hoàn thổ, phục hồi môi trường đã trở thành một quy chế bắt buộc.
Trước khi tiến hành các hoạt động khai thác, chủ mỏ bắt buộc phải lập kế hoạch hoàn thổ phục hồi môi trường. Kế hoạch này như một bộ phận không thể tách rời của kế hoạch khai thác mỏ. Trong kế hoạch hoàn thổ phục hồi môi trường những vấn đề như: hướng dẫn sử dụng đất sau khai thác, quy trình công nghệ hoàn thổ, tiến đọ thực hiện và kinh phí được đề cập rất chi tiết với những hướng dẫn cụ thể và khoa học [30]. Như vậy, hoạt động khai thác khoáng sản trên thế giới đã góp phần không nhỏ trong phát triển kinh tế của các quốc gia.
Tuy nhiên, hoạt động này lại gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường, làm ô nhiễm, suy thoái môi trường. Ở Việt Nam Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú với gần 5.000 mỏ và điểm quặng của khoảng 60 loại khoáng sản khác nhau. Những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do tình trạng hoạt động khai thác khoáng sản đang là vấn đề bức xúc diễn ra trên khắp cả nước. Một thực tế không thể phủ nhận rằng, không dễ dàng kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế – xã hội với bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, nhất là đối với nước ta, trong giai đoạn đầu của thời kỳ CNH -HĐH, khi mà nền kinh tế về cơ bản vẫn phải dựa vào nguồn tài nguyên vốn có hạn.
Thực trạng khai thác một số khoáng sản * Quặng sắt Ở Việt Nam hiện nay đã phát hiện và khoanh định được trên 216 vị trí có quặng sắt, có 13 mỏ trữ lượng trên 2 triệu tấn, phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc. Trong tất cả các mỏ quặng sắt của Việt Nam, đáng chú ý nhất là 2 mỏ lớn đó là mỏ sắt Quý Xa ở Lào Cai và mỏ sắt Thạch Khê ở Hà Tĩnh. Hàng năm, số lượng quặng sắt khai thác và chế biến ở Việt Nam đạt từ 300. Năng lực khai thác quặng sắt hiện nay có thể đáp ứng sản lượng là 500.
Thị trường quặng sắt hiện nay: 80% sử dụng trrong nước, chủ yếu là để luyện thép, còn 20% xuất khẩu. * Bôxit Nước ta có tiềm năng rất lớn về quặng bôxít với tổng trữ lượng và tài nguyên dự báo đạt khoảng 5,5 tỷ tấn, phân bố chủ yếu ở tỉnh Đắc Nông, Lâm Đồng, Gia Lai, Bình Phước,… Nhìn chung, nước ta có trữ lượng tài nguyên bôxít lớn, chất lượng tương đối tốt, phân bố tập trung, điều kiện khai thác thuận lợi. Mặt khác thị trường cung cầu sản phẩm alumin trên thị trường thế giới hiện nay rất thuận lợi cho phát triển ngành công nghiệp nhôm ở nước ta. Bên cạnh nước ta là Trung Quốc có nhu cầu nhập khẩu lớn về alumin, hàng năm khoảng 5 – 6 triệu tấn n -7- alumin.
Do vậy, cần phải chế biến sâu bôxít, điện phân nhôm để phát triển ngành công nghiệp nhôm phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH đất nước. * Quặng titan Theo kết quả điều tra, thăm dò địa chất, cho tới nay đã phát hiện 59 mỏ và điểm quặng titan, trong đó có 6 mỏ lớn có trữ lượng từ 1 đến 5 triệu tấn, 8 mỏ trung bình có trữ lượng >100.000 tấn và 45 mỏ nhỏ và điểm quặng. Do thuận lợi về tài nguyên, công nghệ và thiết bị đơn giản và có thể tự chế tạo trong nước, vốn đầu tư không lớn, có thị trường, lợi nhuận cao cho nên khai thác, chế biến và xuất khẩu quặng titan Việt Nam đang phát triển. Ngành titan hoạt động với giá trị xuất khẩu quặng tinh titan 20 – 30 triệu USD /năm, có hiệu quả kinh tế đáng kể, đặc biệt có ý nghĩa kinh tế xã hội với nhiều địa phương dọc ven biển từ Thanh Hóa đến Bình Thuận.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây do quản lý không chặt chẽ, và lợi dụng hình thức “khai thác tận thu ” đơn vị khai thác và chế biến quặng titan chỉ đầu tư nửa vời, tách được ilmenhit, phần còn lại giàu zircon rutin và Momazit được bán ra nước ngoài ở dạng thô, trong đó có cả các đơn vị không đủ năng lực chuyên môn, kinh nghiệm quản lý, khai thác bừa bãi bất hợp pháp, “nhảy cóc” gây lãng phí tài nguyên, tác động xấu tới môi trường, gây tình trạng tranh chấp trong sản xuất và thị trường. Chế biến quặng tinh và nghiền mịn zircon mới được thực hiện ở một số ít doanh nghiệp khai thác và chế biến quặng titan. * Quặng thiếc Ở nước ta, thiếc được khai thác sớm nhất tại vùng Pia Oắc – Cao Bằng khoảng cuối thế kỷ XVIII. Đến năm 1945, người Pháp đã khai thác khoảng 32.500 tấn tinh quặng SnO2.
Sau hòa bình lập lại, mỏ thiếc Tĩnh Túc – Cao Bằng được Liên Xô (cũ) thiết kế và trang bị bắt đầu hoạt động từ năm 1954. Đây cũng là mỏ thiếc đầu tiên khai thác, chế biến có quy mô công nghiệp. Công nghệ khai thác ở các mỏ quy mô công nghiệp chủ yếu là khai thác bằng ôtô, máy xúc, tuyển trọng lực, tuyển từ, tuyển điện và công nghệ luyện kim bằng lò phản xạ, lò điện hồ quang. Hiện nay công nghệ luyện thiếc bằng lò điện hồ quang do viện nghiên cứu mỏ và luyện kim nghiên cứu thành công và chuyển giao, ứng dụng vào n -8- sản xuất đã đạt được những chỉ tiêu KT – KT tiên tiến.
Bằng việc nghiên cứu ứng dụng điện phân thiếc đạt thiếc thương phẩm loại I: 99,95%; Viện nghiên cứu Mỏ và Luyện kim và công ty Luyện kim màu Thái Nguyên đã xây dựng các xưởng điện phân thiếc với công suất: 500 – 600 tấn /năm. Hiện nay, có ba xưởng điiện phân thiếc thương phẩm loại I xuất khẩu với tổng công suất là 1. * Quặng kẽm chì Các mỏ kẽm chì ở nước ta đã được phát hiện và khai thác, chế biến từ hàng trăm năm nay. Hiện nay, công ty Kim loại màu Thái Nguyên đã xây dựng xong nhà máy điện phân kẽm kim loại tai khu công nghiệp Sông Công Thái Nguyên với công nghệ, thiết bị của Trung Quốc công suất kẽm điện phân là 10.
Các nhà máy điện phân kẽm và luyện chì dự kiến sẽ xây dựng trong giai đoạn 2008- 2015.