Đặt vấn đề Yên Bái là một trong số ít tỉnh được đánh giá là có tiềm năng to lớn về đá hoa làm ốp lát và làm bột carbonat calci (Nguyễn Linh Ngọc, 2012)[6]. Để quy hoạch và phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tới, tỉnh Yên Bái đã chú trọng việc phát triển công nghiệp khai khoáng, trong đó là các mỏ đá hoa trắng là loại hình khoáng sản đang được khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư khai thác, sử dụng nhằm phát huy thế mạnh nguồn nguyên liệu sẵn có của tỉnh (Cổng thông tin điện tử tỉnh Yên Bái, 2010)[14]. Cùng với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, hoạt động khai thác đá hoa ngày càng được quan tâm và phát triển mạnh mẽ. Mỏ đá hoa của nhà máy khai thác và chế biến đá Marble là một trong những khu vực khai thác của tỉnh Yên Bái nằm trên khu vực xã Tân Lĩnh, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
Nhà máy khai thác và chế biến đá Marble đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Yên Bái nói chung và huyện Lục Yên nói riêng (Phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện Lục Yên, 2010)[7]. Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích về kinh tế xã hội, mang lại cho người dân trên địa bàn huyện có được công ăn việc làm và thu nhập ổn định thì hoạt động khai thác của công ty đã và đang gây ra những vấn đề lo ngại về môi trường, nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của người dân. Đó chính là nguồn nước tại khu vực đang bị đe dọa bởi hoạt động khai thác đá của nhà máy chế biến và khai thác đã Marble. Xuất phát từ những vấn đề cấp bách trên, từ nhu cầu thực tế và nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa môi trường, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Giảng viên – Th.S Nguyễn Minh Cảnh, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá ảnh hưởng n 2 hoạt động khai thác đá trắng của nhà máy khai thác và chế biến đá Marble tới chất lượng nước sinh hoạt tại xã Tân Lĩnh, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái”.
Mục đích, yêu cầu 1. Mục đích của đề tài - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác đá trắng của nhà máy khai thác và chế biến đá Marble. - Đánh giá ảnh hưởng hoạt động khai thác đá trắng của nhà máy khai thác và chế biến đá Marble tới chất lượng nước sinh hoạt và đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu tác động của hoạt động này tới môi trường tại khu vực nghiên cứu. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá thực trạng khai thác đã trắng tại xã Tân Lĩnh, huyện Lục yên, tỉnh Yên bái.
- Xác định một số yếu tố của hoạt động khai thác đá trắng ảnh hưởng tới môi trường khu vực xung quanh (đặc biệt là môi trường nước). - Đề xuất giải pháp quản lý cho đơn vị tổ chức khai thác và địa phương nhằm giảm thiểu các tác động của hoạt động khai thác đá trắng tới môi trường và con người. Yêu cầu - Phản ánh đầy đủ, đúng đắn thực trạng khai thác đá trắng tại nhà máy khai thác và chế biến đá Marble và ảnh hưởng tới khu vực phát tán ô nhiễm. - Các mẫu nước phải được lấy trong khu vực chịu tác động của hoạt động khai thác đá trắng tại địa bàn nghiên cứu.
- Các biện pháp được đề xuất phải mang tính khả thi và phù hợp với điều kiện kinh tế của cơ sở. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế. - Nâng cao hiểu biết thêm về kiến thức thực tế.
n 3 - Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường. - Bổ sung tư liệu cho học tập. Ý nghĩa thực tiễn - Đưa được các tác động của hoạt động khai thác đá tới môi trường nước, để từ đó giúp cho đơn vị tổ chức khai thác có các biện pháp quản lý, ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động xấu tới môi trường nước, cảnh quan và con người. - Tạo số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch cho xây dựng chính sách về bảo vệ môi trường và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền vào giáo dục về bảo vệ môi trường cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai khoáng. - Nâng cao chất lượng nước phục vụ cho người dân trên địa bàn xã Tân Lĩnh. n 4 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học về đề tài 2.
Một số khái niệm về tài nguyên nước Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường. Không có nước, cuộc sống trên Trái Đất không thể tồn tại được. Nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển bền vững của đất nước. Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền và hải đảo.
Nước ngầm là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới mặt đất. Nước sinh hoạt là nước có thể dung cho ăn, uống, vệ sinh của con người. Nước sạch là nước đảm bảo các yêu cầu sau: + Nước không có màu. + Không có mùi vị lạ, không có tạp chất.
+ Không chứa chất tan có hại. + Không có mầm mống gây bệnh[9]. Khái niệm về ô nhiễm nước Ô nhiễm nước là hiện tượng các vùng nước như sông, hồ, biển, nước ngầm…bị tác động của con người làm nhiễm các chất có thể gây hại cho con người và cuộc sống của các sinh vật trong tự nhiên. Như vậy, ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng được cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật.
Nguồn gây ô nhiễm có thể là tự nhiên hoặc nhân tạo. Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước các chất bẩn, các sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng. Ô nhiễm n 5 nhân tạo chủ yếu do các quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, giao thông và môi trường nước [9]. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa XI kỳ họp thứ 8 ngày 01/07/2006; - Luật Tài nguyên nước đã được Quốc hội nước CHXHCNVN thông qua ngày 21/06/2012; - Luật khoáng sản số 06/2011/QH được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 17/11/2010; - Nghị định 21/2008/ NĐ - CP sửa đổi bổ sung nghị định 08/2006/NĐ - CP về việc quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của luật BVMT; - Nghị quyết số 41 - NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị và BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước; - Quyết định số 7869/2009/QĐ - BTNMT ngày 24 tháng 04 năm 2009 của Bộ tài nguyên và môi trường về công tác kiểm tra tình hình thực hiện công tác quản lý nhà nước về khoáng sản và hoạt động khai thác khoáng sản; - Quyết định số 35/2002/QĐ - BKHCN ngày 5/6/2000 của Bộ Khoa học công nghệ về việc ban hành tiêu chuẩn môi trường Việt Nam (31 tiêu chuẩn); - Quyết định số 34/2004/QĐ - BKHCN ngày 09/10/2004 của Bộ Khoa học công nghệ về việc ban hành tiêu chuẩn Việt Nam; - Quyết định số 22/2006/QĐ - BTNMT ngày 18/12/2006 của BTNMT về việc bắt buộc áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam (5 tiêu chuẩn); - Quyết định số 16/2008/QĐ - BTNMT ngày 31/12/2006 của BTNMT về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường; Một số TCVN, QCVN liên quan tới chất lượng nước; n 6 - TCVN 5992:1995 (ISO 5667 - 2:1991) - Chất lượng nước - Lấy mẫu.
Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu; - TCVN 5993:1995 (ISO 667 - 3:1985)- Chất lượng nước - Lấy mẫu. Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu; - TCVN 5994:1995 (ISO 5667 - 4:1987) - Chất lượng nước - Lấy mẫu. Hướng dẫn lấy mẫu ở hồ ao tự nhiên và nhân tạo; - TCVN 5996:1995 (ISO 5667 - 6:1990) - Chất lượng nước - Lấy mẫu. Hướng dẫn lấy mẫu ở sông suối; - QCVN 08:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt; - QCVN 09:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ngầm; - QCVN 40:2011/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải công nghiệp; 2.
Tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2. Hoạt động khai thác đá trên thế giới Hoạt động khai thác khoáng sản nói chung và hoạt động khai thác đá nói riêng đã và đang phát triển nhất thế giới. Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà nhu cầu sử dụng đá hoa cương ở các nước ngày càng tăng.
Đá hoa được ứng dụng trong trang trí nội thất mà không có một loại vật liệu nào có thể thay thế. Từ xa xưa con người đã biết sử dụng đá hoa xây dựng nên những lâu đài, điện ngọc để lại những giá trị vĩnh hằng về vật liệu kiến trúc. Ngày nay với sự phát triển của công nghệ khai thác cùng với bàn tay, khối óc con người đã tìm và khai thác được những mỏ đá hoa trắng từ khắp mọi nơi trên thế giới. Phần lớn đá thiên nhiên được khai thác ở Iran, Italia, n 7 Tây ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ, Mexico, Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp, Canada, Pháp và Brazil… Hiện nay trên thế giới nổi tiếng nhất là đá hoa trắng của vùng Carrace - Italia, đây là một loại đá trang trí, nó nổi tiếng không phải chỉ vì sự sáng bóng mà còn vì hình vân và màu sắc của nó.
Có các loại đá trắng, đen, ghi, đỏ, xanh lá cây, vàng và xanh da trời. Hầu hết người ta khai thác đá hoa này ở những mỏ đá lộ thiên, phương pháp tiến hành rất đơn giản. Người ta lấy những khối đá ra rồi cưa chúng bằng dây xoắn, đây là dây thép dài ít nhất 1500m, nó quay quanh một cái ròng rọc mà người ta đã đưa vào trong giếng mỏ có đường kính một vài đêximét và chiều sâu của giếng tương ứng với độ dày của khối đá lấy được. Tốc độ cưa thay đổi từ 5-30cm/h.
Nó phụ thuộc vào độ cứng của đá và chất mài được phụt ra trong rãnh. Dây xoắn cưa ngang hay thẳng đứng, tiếp đó những khối đá được cắt ra theo kích thước và hình dạng đã định trước.