phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn dự kiến trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học viên tại trung tâm giáo dục thường xuyên Vĩnh Phúc. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên tại trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Vĩnh Phúc. 4 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC 1.
Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề Học tập là nhu cầu thiết yếu của con người. Ngay từ những buổi sơ khai, khi mới xuất hiện, con người đã học cách săn, bắt, hái, lượm, trồng trọt. Đó là một hoạt động mang tính bản năng và hoàn toàn tự phát. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu học tập càng cao và việc học tập càng lại được coi trọng vì đó chính là con đường quan trọng trong việc tu dưỡng, rèn luyện ý chí, khả năng, là con đường lập thân, lập nghiệp của mỗi con người.
Trên con đường học tập đó, vấn đề tự học được xem là một nội lực quan trọng, nó quyết định tới sự thành, bại của người học. Tự học đã biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Chính tự học đã giúp người học biến tri thức của nhân loại thành tri thức của bản thân mình. Tự học đã xây được nền móng tri thức vững chắc, tạo sự liên kết hợp lý trong hệ thống kiến thức, giúp việc tiếp tục học tập được thuận lợi, dễ dàng và kiến thức được phát triển bền vững cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Ngay từ thời cổ đại, các nhà giáo dục lỗi lạc đã nhận thấy vai trò quan trọng của tự học. Khổng Tử (551- 479 TCN) - Nhà tư tưởng nổi tiếng và nhà sư phạm vĩ đại của Trung Quốc, về phương pháp giáo dục Ông đã đề cao việc tự học, tự luyện, tu thân, chú trọng phát huy mặt tích cực, sáng tạo, năng lực nội sinh. Khổng Tử thường chú ý đến dạy sát đối tượng, kết hợp học với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn, phát triển hứng thú, động cơ, ý chí cho người học. Ông xác định "Học nhi thời tập chí", việc học tập theo ông phải gắn liền với thực hành mới thông suốt được các điều đã học.
Ông đã từng nói với học trò của mình "Không muốn học vì không muốn biết thì không gợi mở cho, 5 z không bực tức vì không rõ thì không bày vẽ cho. Vạch cho một khía cạnh rồi mà môn đệ không tìm ra được ba khía cạnh khác thì không dạy thêm nữa". Điều mà Khổng Tử quan tâm không chỉ là phát triển hứng thú mà ông còn quan tâm đặc biệt đến vấn đề tư duy (suy nghĩ) trong học tập, theo ông học tập và tư duy là hai yếu tố có mối quan hệ ràng buộc không thể thiếu của một vấn đề: "Học nhi bất tư tắc vong, tư nhi bất học tắc đãi" (Học mà không tư duy/suy nghĩ thì uổng phí, tư duy/suy nghĩ mà không học thì nguy hiểm). Khổng Tử còn yêu cầu môn sinh: bác học, thâm vấn, thận tư, minh biện, đốc hành (học cho rộng, hỏi cho kỹ/sâu, tư duy/suy nghĩ cho cẩn thân, phân biệt cho rõ ràng, làm cho hết sức).
Ông còn nhấn mạnh: "Cũng có điều chưa học, nhưng đã học điều gì mà không được thì không thôi. Cũng có điều chưa hỏi, nhưng đã hỏi điều gì mà chưa rõ thì không thôi. Cũng có điều chưa phân biệt được, nhưng đã phân biệt được thì phân biệt cho minh bạch". Cũng có điều chưa làm, nhưng đã làm điều gì mà không xong thì không buông xuôi.
Người ta dụng công mười mà được, ta cũng dùng công mười mà chưa được thì dụng công gấp ngàn lần kỳ được mới thôi. Nếu làm được theo điều ấy thì đầu ngu cũng hoá sáng, yếu cũng thành mạnh”. Và “nếu môn đệ không tự hỏi phải làm ra sao? phải làm ra sao? thì ta cũng chẳng làm thế nào được”. Như vậy, theo Khổng Tử thì phương châm học tập là phải tham khảo nhiều tài liệu, tìm hiểu bài cho thật sâu qua điều tra vặn hỏi, học phải có bình luận, đánh giá và thực hành cho thật nhiều với một quyết tâm cao thì trước chưa thạo nhưng rồi cũng sẽ thành thạo.
Các nhà giáo dục phương Tây cũng đã nhấn mạnh về việc phát huy khả năng và hiệu quả học tập từ ý thức tự giác, thực hành, suy luận, nghiên cứu, tìm tòi, khám phá của người học. 6 z Sinh thời, Chủ Tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục, Người cho rằng việc học tập là không bao giờ đủ, mà phải học liên tục, học suốt đời thì mới tiến bộ, mới theo kịp sự phát triển của thế giới "Học hỏi là một việc phải tiếp tục học suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình là đã biết đủ rồi.
Thế giới ngày càng đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân". Trong những tác phẩm và nhiều bài phát biểu của mình bao giờ Bác cũng nhấn mạnh đến tác dụng và hiệu quả to lớn của việc học tập và rèn luyện. Bác cho rằng học tập giúp người ta tiến bộ, nâng cao phẩm chất, mở rộng hiểu biết, làm tăng năng suất lao động. Mà theo Bác muốn học tập đạt kết quả cao thì phải tự học "lấy tự học làm cốt.
Do thảo luận và chỉ đạo góp vào". Phải biết tự giác học tập, Bác khuyên: "không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập". Người đã động viên toàn dân: "phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ của người Cách mạng, phải cố gắng mà hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập".
Như vậy theo Bác tự học giữ vai trò quan trọng, có tác dụng quyết định đến kết quả học tập. Tự học phải xuất phát từ động lực thôi thúc của chính bản thân người học nhưng vẫn cần sự hỗ trợ, tác động từ môi trường học tập, cần sự hướng dẫn của nhà trường, của người thầy. Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề tự học của các học giả, các nhà nghiên cứu giáo dục như: Nguyễn Hiến Lê, Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Cảnh Toàn, Phan Trọng Luận,… các công trình nghiên cứu này đều xác nhận vai trò quyết định của tự học trong việc nâng cao chất lượng học tập của người học. Đồng thời cũng đề cập đến những biện pháp hữu hiệu trong công tác tổ chức, quản lý hoạt động tự học nhằm nâng cao chất lượng học tập.
Các đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sĩ về vấn đề tự học gần đây cũng đã khẳng định tầm quan trọng của hoạt động tự học, tự nghiên cứu của người 7 z học và cũng đã đề xuất được những phương hướng, biện pháp quản lý nhằm tăng cường hiệu quả của hoạt động tự học. Việc kế thừa tiếp thu những thành quả của các công trình nghiên cứu trên một cách có chọn lọc để đề xuất những biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho học viên tại trung tâm GDTX tỉnh Vĩnh Phúc, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong giai đoạn hiện nay là ý nghĩa thực tiễn của luận văn này. Những vấn đề về tự học 1. Khái niệm "Tự học" Theo Nguyễn Lân, trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam, ông cho rằng: Tự: là chính mình; học: là học.
Vậy tự học là tự mình học lấy không cần có người dạy, cũng có thể hiểu là "Tự đi tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học". Nguyễn Hiến Lê, trong cuốn "Tự học một nhu cầu của thời đại" cho rằng "Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm. Có thầy hay không ta không cần biết. Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được: đó mới là điều kiện quan trọng" [23;14].
Như vậy theo ông tự học là cần thiết nhưng không phải là sự bắt buộc; người học hoàn toàn tự do, tự chủ, nhờ vậy nó là một cái thú. Theo Nguyễn Cảnh Toàn: "Tự học là tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [31;59]. Nguyễn Đức Trí, thì cho rằng "Tự học là hoạt động độc lập, chủ yếu mang tính chất cá nhân của học sinh, sinh viên trong quá trình nhận thức học tập để cải biến nhân cách đó, nó vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu của quá trình đào tạo nói chung ở nhà trường. Có hai loại tự học là tự học trong giờ lên lớp và tự học ngoài giờ.
Hoạt động tự học của học sinh, sinh viên trong 8 z giờ lên lớp thường thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên bộ môn như là một bộ phận, một bước, một hình thức tổ chức của quá trình dạy học. Hoạt động tự học ngoài lớp có thể được thực hiện ở ký túc xá hoặc ở nhà, theo cá nhân hoặc theo nhóm. Đây là hoạt động chủ yếu của sinh viên sau giờ lên lớp được hướng dẫn hoặc tự phát nhưng rất cần được tổ chức và quản lý chặt chẽ để đảm bảo chất lượng dạy học và giáo dục” [38; 49]. Nhìn chung theo các cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu giáo dục thì khái niệm "Tự học" có những điểm giống nhau về cơ bản: là hoạt động học tập chủ động và độc lập, xuất phát nhu cầu của người học, có hoặc không có người hướng dẫn.
Điểm khác nhau là cách tiến hành, phương tiện hỗ trợ, hoàn cảnh, thời gian thực hiện. Như vậy, có thể xem "Tự học" là một hoạt động nhận thức diễn ra với sự tự giác, tính tích cực và độc lập cao của từng cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng được tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình sách giáo khoa quy định.