Tổng quan nghiên cứu

Triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT, Hoạt động trải nghiệm đã chính thức trở thành nội dung giáo dục bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 5 với thời lượng 105 tiết trong mỗi năm học. Đây là bước chuyển mang tính bước ngoặt nhằm hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 88/2014/QH13: chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực người học. Tuy nhiên, tại các địa bàn miền núi đặc thù như huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh—địa phương có diện tích tự nhiên 576 km2 với dân số 23.207 người gồm 14 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc Dao chiếm 45,2%—việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tế ngoài không gian trường học đang đối mặt với rất nhiều rào cản.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự cách biệt lớn giữa lý luận đổi mới và thực tiễn triển khai. Đa số các trường tiểu học tại Ba Chẽ mới chỉ tổ chức trải nghiệm gói gọn trong khuôn viên lớp học hoặc sân trường. Hoạt động trải nghiệm ngoài nhà trường—nơi học sinh được tiếp xúc trực tiếp với thế giới tự nhiên và đời sống kinh tế, văn hóa địa phương—chưa được quan tâm đúng mức do hạn chế về năng lực quản lý, nguồn lực kinh phí và các phương án kiểm soát rủi ro an toàn.

Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của tác giả Hoàng Thị Nhâm, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hồng tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên (năm 2023), tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất hệ thống biện pháp quản lý khoa học giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2023. Nghiên cứu hướng đến mục tiêu gia tăng tối thiểu 35% số lượng các buổi học thực địa, thu hút 100% học sinh tiểu học tham gia và chuẩn hóa 100% quy trình chỉ đạo, kiểm tra giám sát an toàn tại 100% cơ sở giáo dục tiểu học trên địa bàn huyện Ba Chẽ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết học tập trải nghiệm của David Kolb và John Dewey, được Hiệp hội Giáo dục Trải nghiệm quốc tế thừa nhận chính thức từ năm 1977. Mô hình này xác lập chu trình nhận thức 4 giai đoạn khép kín: trải nghiệm cụ thể, quan sát phản ánh, khái quát hóa tri thức và thử nghiệm tích cực trong bối cảnh thực tiễn. Đồng thời, đề tài tích hợp lý thuyết quản trị chức năng của Henri Fayol với 4 mắt xích cốt lõi trong chu trình quản lý nhà trường: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá.

Khung khái niệm của luận văn làm rõ 4 thuật ngữ nền tảng:

  • Trải nghiệm: Quá trình người học tương tác trực tiếp với thế giới khách quan, qua đó chuyển hóa cảm xúc và hành động thực tế thành vốn sống cá nhân.
  • Hoạt động trải nghiệm ngoài nhà trường: Hoạt động giáo dục do nhà trường thiết kế, định hướng và tổ chức bên ngoài khuôn viên trường học, gắn liền với di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, trang trại nông nghiệp hoặc cộng đồng dân cư.
  • Quản lý hoạt động trải nghiệm ngoài nhà trường: Chuỗi tác động có mục đích của người hiệu trưởng tới đội ngũ giáo viên, nhân viên, học sinh và các lực lượng xã hội nhằm tối ưu hóa các nguồn lực để đạt chuẩn đầu ra giáo dục.
  • Năng lực và phẩm chất học sinh tiểu học: Hệ thống 5 phẩm chất chủ yếu (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm) và 10 năng lực cốt lõi theo quy định của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng cỡ mẫu khảo sát gồm 90 khách thể, bao gồm 27 cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng), 03 cán bộ chuyên môn phụ trách cấp tiểu học của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Ba Chẽ, cùng 60 giáo viên tiểu học trực tiếp đứng lớp. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện có chủ đích được áp dụng tại 4 trường tiểu học đại diện: Trường Tiểu học Thị trấn Ba Chẽ (khu vực trung tâm đô thị), Trường Tiểu học Đồn Đạc, Trường Tiểu học Đạp Thanh và Trường Tiểu học Minh Cầm (các xã vùng sâu, vùng xa có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số trên 80%). Việc lựa chọn mẫu này đảm bảo tính đại diện cao, phản ánh chân thực bức tranh giáo dục toàn diện của địa phương.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu hỏi chuẩn hóa sử dụng thang đo Likert 5 mức độ, kết hợp 15 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân, 4 buổi tọa đàm chuyên môn và quan sát trực tiếp tại cơ sở; dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ các báo cáo tổng kết giáo dục của huyện Ba Chẽ giai đoạn 2021-2023. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê toán học (tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định tương quan Pearson) kết hợp phân tích định tính là nhằm lượng hóa chính xác mức độ đồng thuận, kiểm tra độ tin cậy của thang đo và bảo đảm tính khách quan, khoa học khi kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn tại các trường tiểu học huyện Ba Chẽ giai đoạn 2021-2023 đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:

  • Về nhận thức và hành động: Có 88,9% cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá hoạt động trải nghiệm ngoài nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành kỹ năng sống cho học sinh. Tuy nhiên, tỷ lệ triển khai thực tế lại rất khiêm tốn: chỉ có 31,1% giáo viên từng chủ động tổ chức cho học sinh đi trải nghiệm thực địa ngoài khuôn viên trường từ 2 lần trở lên trong một năm học.
  • Về nội dung triển khai: Các nội dung mang tính tham quan di tích lịch sử và tìm hiểu thiên nhiên, môi trường chiếm tỷ trọng áp đảo với 65,6%. Trong khi đó, các hoạt động rèn luyện kỹ năng sinh tồn, phòng chống đuối nước, tai nạn thương tích và trải nghiệm làng nghề truyền thống địa phương (như nghề thêu thổ cẩm, chế biến dược liệu) mới chỉ đạt 28,9%.
  • Về thực trạng các khâu quản lý: Khâu lập kế hoạch đạt điểm số cao nhất với điểm trung bình 3,82 trên thang điểm 5,0 (tương đương 76,4% mức độ đáp ứng). Trái lại, khâu kiểm tra, đánh giá và xây dựng bộ tiêu chí định lượng chuẩn đầu ra cho học sinh sau chuyến đi đạt mức thấp nhất, chỉ dừng lại ở điểm trung bình 3,12 trên 5,0 (chiếm 62,4%), và dưới 35% hoạt động có phiếu đánh giá sự tiến bộ của học sinh.
  • Về các yếu tố cản trở: Địa hình đồi núi dốc, giao thông cách trở và thời tiết mưa lũ bất thường là rào cản lớn nhất, chiếm 72,2% ý kiến phản hồi; tiếp theo là khó khăn về kinh phí khi nguồn lực xã hội hóa từ cha mẹ học sinh chỉ đáp ứng được khoảng 24,5% chi phí tổ chức thực tế.

Thảo luận kết quả

Khoảng cách lớn giữa nhận thức lý thuyết và hành động thực tiễn bắt nguồn từ tâm lý lo ngại rủi ro mất an toàn giao thông và đuối nước của đội ngũ cán bộ quản lý, nhất là khi học sinh tiểu học còn nhỏ tuổi và thiếu kỹ năng tự bảo vệ. Thêm vào đó, năng lực thiết kế giáo án tích hợp liên môn ngoài thực địa của khoảng 46% giáo viên vùng cao vẫn còn nhiều lúng túng.

So sánh với nghiên cứu của Phạm Văn Chương tại huyện vùng cao Nậm Pồ (Điện Biên), các yếu tố trở ngại về địa hình hiểm trở và thời tiết có tính tương đồng cao khi đều chiếm trên 70% khó khăn. Tuy vậy, kết quả này có sự khác biệt rõ rệt so với nghiên cứu của Bùi Tố Nhân tại quận Lê Chân (Hải Phòng) hay nghiên cứu của Phan Thị Hạnh tại quận Bình Thạnh (TP. Hồ Chí Minh), nơi các trường đô thị chủ yếu gặp thách thức về quỹ đất chật hẹp và áp lực thương mại hóa dịch vụ với chi phí đắt đỏ gấp 3 đến 4 lần.

Dữ liệu của luận văn có thể được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ cột kép so sánh mức độ giữa "Nhận thức tầm quan trọng" và "Mức độ thực hiện thực tế" theo từng năm học; kết hợp với bảng ma trận phân tích SWOT xác lập các điểm nghẽn về nguồn lực tại Ba Chẽ. Đặc biệt, biểu đồ phân tán kiểm định mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đã chỉ ra hệ số tương quan r đạt 0,78, khẳng định tính khoa học và thực tiễn vững chắc của công trình nghiên cứu.

Đề xuất và khuyến nghị

Để tháo gỡ các điểm nghẽn thực tiễn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp quản lý đồng bộ:

  • Nâng cao nhận thức và năng lực sư phạm: Hiệu trưởng các trường tiểu học chủ trì tổ chức 02 chuyên đề bồi dưỡng mỗi năm học về kỹ năng thiết kế bài học thực địa và phương pháp quản trị rủi ro ngoài trời, phấn đấu đạt 100% cán bộ quản lý và giáo viên hoàn thành tập huấn trước ngày 30 tháng 9 hàng năm.
  • Đổi mới nội dung gắn kết với thế mạnh kinh tế, văn hóa bản địa: Tổ chuyên môn và giáo viên các khối lớp phối hợp xây dựng giáo án trải nghiệm tích hợp liên môn gắn liền với các vùng trồng cây dược liệu ba kích tím, chè hoa vàng và nghề truyền thống của đồng bào Dao, cam kết tổ chức tối thiểu 02 hoạt động trải nghiệm thực địa ngoài nhà trường mỗi học kỳ cho 100% học sinh từ năm học 2023-2024.
  • Huy động nguồn lực xã hội hóa và cơ chế phối hợp liên ngành: Ban Giám hiệu phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh, các hợp tác xã sản xuất OCOP và lực lượng Đoàn Thanh niên địa phương nhằm nâng tỷ trọng hỗ trợ kinh phí, phương tiện di chuyển từ 24,5% hiện nay lên ít nhất 45% vào cuối năm 2024, bảo đảm miễn giảm 100% chi phí cho học sinh thuộc diện hộ nghèo.
  • Hoàn thiện quy trình kiểm tra, đánh giá và quản trị an toàn: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Ba Chẽ ban hành bộ công cụ tiêu chí đánh giá năng lực học sinh theo Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT trong thời hạn 60 ngày; đồng thời bắt buộc 100% trường học phải xây dựng kế hoạch dự phòng thời tiết, lộ trình di chuyển và hoàn tất phương án cứu hộ y tế được phê duyệt trước 07 ngày trước khi xuất phát.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cán bộ quản lý các trường tiểu học vùng miền núi: Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng tại 100% cơ sở giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số có thể áp dụng ngay quy trình 4 bước quản trị rủi ro và các mẫu kế hoạch tổ chức ngoại khóa, giúp tăng hiệu suất quản lý và giảm thiểu 50% nguy cơ mất an toàn.
  • Giáo viên tiểu học và Tổng phụ trách Đội: Hơn 60 giáo viên trực tiếp giảng dạy có thể tham khảo ngân hàng ý tưởng chủ đề thực địa tích hợp văn hóa địa phương, giúp tiết kiệm 40% thời gian xây dựng bài học trải nghiệm ngoài không gian lớp học.
  • Cán bộ, chuyên viên các Phòng Giáo dục và Đào tạo: Đội ngũ quản lý chuyên môn tại 13 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Quảng Ninh và các tỉnh miền núi phía Bắc sử dụng luận văn làm căn cứ khoa học để xây dựng văn bản hướng dẫn liên ngành, đẩy nhanh lộ trình 5 năm đổi mới giáo dục tiểu học.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục: Các nhà nghiên cứu thuộc mã ngành 8.14 có thể kế thừa bộ công cụ điều tra 90 mẫu đã được kiểm định độ tin cậy để làm dữ liệu đối sánh cho các công trình nghiên cứu khoa học giáo dục tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

  • Hoạt động trải nghiệm ngoài nhà trường khác biệt gì so với hoạt động trải nghiệm trong lớp học? Hoạt động ngoài nhà trường đưa học sinh ra môi trường thực tế như danh lam thắng cảnh, trang trại hoặc làng nghề truyền thống. Phương thức này giúp học sinh quan sát trực quan 100% sự vật hiện tượng, rèn luyện kỹ năng sinh tồn và phản xạ xã hội tốt hơn, nhưng yêu cầu khâu chuẩn bị hậu cần, kinh phí và bảo đảm an toàn phức tạp gấp 3 lần so với trong lớp học.

  • Khó khăn lớn nhất khi đưa học sinh tiểu học Ba Chẽ đi trải nghiệm thực địa là gì? Rào cản lớn nhất là địa hình vùng cao hiểm trở chiếm tới 72,2% ý kiến phản hồi, với hệ thống sông suối chia cắt và thời tiết mưa lũ bất thường. Thêm vào đó, hơn 80% học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn, khiến việc huy động kinh phí đóng góp từ phụ huynh chỉ đáp ứng dưới 25% nhu cầu.

  • Cán bộ quản lý cần thực hiện những bước nào để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho học sinh? Hiệu trưởng phải tuân thủ quy trình 4 giai đoạn: khảo sát thực địa trước 10 ngày, lập phương án dự phòng rủi ro thời tiết, ký hợp đồng phương tiện vận chuyển đạt chuẩn kiểm định và duy trì tỷ lệ tối thiểu 01 người lớn giám sát chặt chẽ trên 10 học sinh trong suốt hành trình.

  • Làm thế nào để giải quyết bài toán thiếu kinh phí khi tổ chức hoạt động ngoài nhà trường? Nhà trường cần khai thác các địa điểm văn hóa, lịch sử và mô hình nông nghiệp ngay tại địa phương để không phát sinh chi phí vé tham quan. Đồng thời, chủ động liên kết với các hợp tác xã sản xuất ba kích, chè hoa vàng và tổ chức Đoàn thể để tài trợ phương tiện, giúp tiết kiệm ít nhất 40% chi phí chuyến đi.

  • Việc kiểm tra, đánh giá học sinh sau chuyến trải nghiệm được thực hiện dựa trên cơ sở nào? Đánh giá học sinh thực hiện theo Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT thông qua bảng quan sát hành vi, nhật ký thu hoạch và các sản phẩm nhóm. Khoảng 70% trọng số đánh giá tập trung vào tinh thần hợp tác, kỹ năng tự phục vụ, khả năng giải quyết vấn đề và ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường của học sinh.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý hoạt động trải nghiệm ngoài nhà trường theo định hướng phát triển năng lực của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 với quy chuẩn 105 tiết mỗi năm học.
  • Phản ánh trung thực thực trạng giáo dục tiểu học tại huyện Ba Chẽ thông qua bộ dữ liệu khảo sát 90 cán bộ quản lý và giáo viên tại 4 trường tiểu học giai đoạn 2021-2023.
  • Xây dựng thành công hệ thống 6 nhóm biện pháp quản lý có tính khả thi cao với hệ số tương quan đồng thuận r đạt 0,78 giữa nhu cầu lý luận và điều kiện thực tiễn.
  • Đề xuất lộ trình triển khai thí điểm trong 12 tháng, bảo đảm mục tiêu 100% học sinh tiểu học vùng cao được tham gia ít nhất 02 chuyến trải nghiệm thực tế chất lượng mỗi năm học.
  • Đóng góp mô hình thực nghiệm tiêu biểu cho các địa bàn miền núi khó khăn trong việc gắn kết giáo dục nhà trường với nhiệm vụ bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số.

Các nhà trường, cơ quan quản lý giáo dục và cộng đồng xã hội cần nhanh chóng phối hợp hành động, đưa các giải pháp của luận văn vào thực tiễn năm học để mở rộng cánh cửa lớp học, mang lại những trải nghiệm học tập trọn vẹn và an toàn nhất cho học sinh vùng cao.