CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ngoài nước Tổ chuyên môn (TCM) là mắt xích quan trọng trong cơ cấu tổ chức của nhà trƣờng. Hoạt động của TCM quyết định trực tiếp đến chất lƣợng giáo dục và sự phát triển của nhà trƣờng. Vì vậy, quản lý hoạt động TCM là rất cần thiết.
Xu KhômLinxki (1918 - 1970) và A.Makarenko (1888 - 1939) đều là các nhà giáo dục học hàng đầu của Xô viết đã khẳng định rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của nhà trƣờng phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ GV” [33, tr. Muốn xây dựng đội ngũ GV, Hiệu trƣởng phải có quyền lựa chọn đội ngũ GV cho nhà trƣờng, phân công nhiệm vụ hợp lý cho GV thông qua TCM.Everad, Geroey Morris và Ian Wilson với tác phẩm “Quản trị hiệu quả trƣờng học”. Tác phẩm có ý nghĩa thiết thực cho cán bộ quản lý trƣờng học và các cơ sở giáo dục. Với nội dung thực tiễn cao, trên cơ sở lý luận về quản lý hoạt động chuyên môn hiện đại mà chính các tác giả là ngƣời thực hành viết cho những ngƣời thực hành.
Công trình đã nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý hoạt động chuyên môn trong việc nâng cao chất lƣợng dạy học [19]. Trong bài tạp chí “Principal Leadership for Professional Development to Build School Capacity” 35 của tác giả Youngs, P. B (2002) đã sử dụng nghiên cứu nhiều năm ở các trƣờng tiểu học trong khu vực đô thị để xem xét về cách thức lãnh đạo tổ chuyên môn tại 4 trƣờng thì ông phát hiện ra rằng lãnh đạo tổ chuyên môn có thể duy trì những những ngƣời có 7 năng lực cao bằng cách tạo ra niềm tin, tạo ra cấu trúc thúc đẩy việc học tập của giáo viên và kết nối cá nhân với tổ chuyên môn, có thể thúc đẩy hoạt động của tổ chuyên môn. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy trong quá trình chuyển đổi trong các lãnh đạo nhà trƣờng, các hiệu trƣởng phải nhận thức đƣợc các tiêu chuẩn và giá trị chung giữa các tổ chuyên môn trong khi đƣa các chƣơng trình mới vào giảng dạy.
Cuối cùng, kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng tổ chuyên môn chính là yếu tố trung gian giúp gắn kết giữa lãnh đạo nhà trƣờng và thành tích của học sinh. Trong bất cứ thời đại nào, đất nƣớc nào, giáo dục cũng có vai trò rất quan trọng. Bởi vì mục đích của giáo dục là giúp cho ngƣời học phát triển toàn diện cả về kiến thức và nhân cách, làm cho ngƣời học trở thành ngƣời có ích cho gia đình và xã hội. Để thực hiện đƣợc nhiệm vụ trên đòi hỏi chúng ta phải nâng cao chất lƣợng dạy học tại các trƣờng phổ thông.
Muốn nhƣ thế đòi hỏi chúng ta phải nâng cao chất lƣợng hoạt động của TCM và quản lý tốt hoạt động của TCM. Những nghiên cứu trong nước Hiện nay, việc nghiên cứu về QLGD nói chung và và QL hoạt động TCM nói riêng trong các nhà trƣờng phổ thông đƣợc nhiều tác giả quan tâm nhƣ: Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Hà Sỹ Hồ…. Các tác giả đã có nhiều công trình nghiên cứu và có nhiều đóng góp quan trọng về lý luận QLGD, các nội dung về QL CTM và các nội dung khác về QL nhà trƣờng phổ thông. Nghiên cứu sâu về vai trò, hoạt động đặc thù của TCM, trong cuốn Dạy học truyền thống và hiện đại, tác giả Thái Duy Tuyên khẳng định rằng: “TCM là tế bào cơ bản, giữ vị trí quan trọng nhất trong việc triển khai công tác quản lý, đổi mới phƣơng pháp dạy học, là đầu mối để thực hiện các quyết định chủ trƣơng của Hiệu trƣởng, là nơi tổ chức học tập, ứng dụng để thể nghiệm các 8 phƣơng pháp dạy học mới” [31].
Ông cũng đề xuất phƣơng pháp “Để quản lý chất lƣợng tổ bộ môn, trƣớc hết cần phải cụ thể hóa các chủ trƣơng đổi mới các phƣơng pháp dạy học của các cấp quản lý thành những quy định nội bộ để tổ chức thực hiên. Hiệu trƣởng cần giao trách nhiệm cho các Phó Hiệu trƣởng hoặc trực tiếp hƣớng dẫn tổ trƣởng TCM xây dựng kế hoạch đổi mới phƣơng pháp dạy học cho từng năm học. Đặc biệt, cần đổi mới nội dung sinh hoạt TCM theo hƣớng nghiên cứu bài học, theo chủ đề dạy học…. phải chú trọng bồi dƣỡng cho GV những vấn đề cụ thể của từng môn học.
Đồng thời, Hiệu trƣởng phải kiểm tra tất cả các khâu từ xây dựng kế hoạch đến tổ chức chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch và tự kiểm tra đánh giá của TCM”. Vấn đề đƣợc tác giả quan tâm là vai trò của TCM trong việc đổi mới PPDH. Tuy nhiên đó chƣa phải là tất cả mà từ đó giúp ta có thể nhận thức đƣợc tầm quan trọng của TCM trong hoạt động của nhà trƣờng. Các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu sâu ở các khía cạnh khác nhau về lĩnh vực QLGD, QL hoạt động TCM.
Kết quả của các công trình trên có nhiều đóng góp cho công tác QLGD ở các nhà trƣờng phổ thông. Đồng thời, đó còn là những viên gạch giúp cho cho bản thân kế thừa một cách có cơ sở khoa học cho những định hƣớng nghiên cứu về QL hoạt động TCM ở các trƣờng phổ thông trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt, ở cấp THCS vẫn còn rất ít các tác giả nghiên cứu vấn đề này. Trong thời gian qua, một số học viên cao học chuyên ngành QLGD đã chọn các vấn đề ít nhiều liên quan đến QL hoạt động TCM ở trƣờng phổ thông để làm luận văn thạc sĩ nhƣ: “Quản lý hoạt động TCM ở các trƣờng trung học cơ sở huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội” của Đào Thị Phƣợng, năm 2019; “Quản lý hoạt động TCM ở các trƣờng trung học phổ thông huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi” của Đoàn Quốc Việt, năm 2019; “Biện pháp quản lý hoạt động TCM ở các trƣờng trung học phổ thông huyện Đắk Song, tỉnh 9 Đắk Nông” của Cù Khánh Tuấn, 2019; “Quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trƣờng tiểu học quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh” của Dƣơng Thị Ngọc Phƣợng, năm 2020; …Các tác giả đã đánh giá thực trạng sát thực, có minh chứng bằng các số liệu thống kê cụ thể; đồng thời nghiên cứu kỹ nội dung quản lý hoạt động TCM ở các địa phƣơng cụ thể và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của TCM.
Ở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đến nay chƣa có công trình nào nghiên cứu việc quản lý hoạt động TCM ở các trƣờng THCS. Vì vậy, đề tài trên là một vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa cấp thiết. Một số khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 1. Quản lý Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử.
Vì thế thuật ngữ “Quản lý” đƣợc nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc trình bày với nhiều góc nhìn khác nhau. Cụ thể nhƣ sau: Các Mác cho rằng: “Bất cứ lao động nào có tính xã hội, cộng đồng đƣợc thực hiện ở quy mô nhất định đều cần ở chừng mực nhất định sự quản lý, giống nhƣ ngƣời chơi vĩ cầm một mình thì tự điều khiển còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trƣởng” [21]. Nhƣ vậy, quản lý là một dạng lao động đặc biệt, điều khiển các hoạt động lao động, nó có tính khoa học và nghệ thuật cao, nhƣng đồng thời nó là sản phẩm có tính lịch sử, tính đặc thù của xã hội. Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những điều kiện nhất định” [24].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hƣởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung”[3]. Hai tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời 10 quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức” [10]. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lí trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nƣớc (chủ yếu là nội lực) một cách tối ƣu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [16]. Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hƣớng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu này đặc trƣng cho trạng thái mới của hệ thống mà ngƣời quản lý mong muốn” [22]. Từ những phân tích trên, có thể khái quát: “QL là quá trình tác động có mục đích, có định hƣớng, có tổ chức và có kế hoạch của chủ thể QL đến đối tƣợng quản lý nhằm giữ cho sự vận hành của tổ chức đƣợc ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất”. Quản lý giáo dục QLGD là một chuyên ngành đƣợc phát triển trên nền tảng của khoa học quản lý chung. Cũng giống nhƣ khái niệm quản lý, khái niệm QLGD cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau: Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “QLGD là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình DH – GD nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nƣớc đề ra” [20] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trƣờng) nhằm thực hiện có chất lƣợng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành GD”[27] 11 Theo tác giả Trần Kiểm chia QLGD thành 2 cấp độ: Quản lý vĩ mô và quản lý vi mô.
QLGD cấp vĩ mô là quản lý nền giáo dục hoặc hệ thống giáo dục hay còn gọi là quản lý nhà nƣớc về giáo dục; Quản lý cấp vi mô là quản lý nhà trƣờng [16].