Chương 1: Một số vấn đề chung về thiết chế Nhà Thiếu nhi và tổng quan về Nhà Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh Trong chương này, chúng tôi trình bày các khái niệm làm cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài; tổng quan về Nhà Thiếu nhi thành phố Hồ Chí Minh. (29 trang) Chƣơng 2: Các lĩnh vực quản lý của Nhà Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh Trong chương này, chúng tôi phân tích thực trạng các loại hình hoạt động của Nhà Thiếu nhi trong điều kiện thực tế ở Thành phố Hồ Chí Minh. (37 trang) Chương 3: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý hoạt động Nhà Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh Trong chương này, chúng tôi đánh giá thực trạng và trên cơ sở chủ trương, quan điểm của Đảng - Nhà nước cùng với điều kiện của Thành phố mà đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động của Nhà Thiếu nhi. (30 trang) 12 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THIẾT CHẾ NHÀ THIẾU NHI VÀ TỔNG QUAN NHÀ THIẾU NHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1.
Các khái niệm liên quan đề tài 1. Thiết chế, thiết chế văn hóa - Khái niệm thiết chế Theo Đại Từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý: “thiết chế là thể chế”. Theo từ điển này thì “Thể chế là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội” [60, tr.1508], có thể suy rộng ra thiết chế là toàn bộ hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát mọi hoạt động của xã hội. Đồng thời, theo tác giả Nguyễn Như Ý thì mỗi hệ thống thiết chế chỉ tồn tại và có giá trị trong những giai đoạn lịch sử nhất định, với những chế độ xã hội nhất định.
Bên cạnh đó, từ khái niệm này cũng có thể hiểu, hệ thống thiết chế này bao gồm hai dạng cơ bản là dạng thiết chế chính thức và phi chính thức. Hệ thống thiết chế chính thức do cơ quan công quyền lập ra cùng với đó là hệ thống chế tài để quản lý xã hội. Hệ thống thiết chế phi chính thức là những phong tục, tập quán, quy ước, khế ước xã hội do quần chúng nhân dân tạo ra để quản lý cộng đồng, xã hội. Nhờ các thiết chế mà cộng đồng vốn dĩ là sự phức hợp các mối quan hệ xã hội được vận hành nhịp nhàng, theo quỹ đạo của cái chân – cái thiện – cái mỹ.
Tuy nhiên, trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTW Đảng (khóa VIII) có các đoạn viết như sau: Hệ thống thể chế vǎn hóa được xây dựng tuy chưa hoàn chỉnh, nhưng về cǎn bản bảo đảm được sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Thể chế vǎn hóa mới khuyến khích nhân dân lao động tham gia sự nghiệp xây dựng vǎn hóa trên cả hai mặt sáng tạo và hưởng thụ; giúp đội ngũ vǎn nghệ sĩ chuyên nghiệp làm tốt vai trò nòng cốt trong 13 việc sáng tạo các giá trị vǎn hóa mới; tạo điều kiện thực hiện tốt nhiệm vụ giữ gìn và phát huy bản sắc vǎn hóa dân tộc kết hợp với tiếp thu tinh hoa vǎn hóa thế giới. Một bộ phận quan trọng thiết chế vǎn hóa (Nhà vǎn hóa, Câu lạc bộ, bảo tàng, thư viện, cửa hàng sách báo, khu vui chơi giải trí.), gần đây đã có những phương thức hoạt động mới có hiệu quả [14]. Như vậy, theo quan niệm của Đảng cộng sản Việt Nam thì thể chế và thiết chế không hoàn toàn đồng nghĩa với nhau.
Thuật ngữ thể chế ở đây được hiểu là những qui ước, luât lệ về lĩnh vực văn hóa. Còn thuật ngữ thiết chế phải được hiểu là các cơ quan, đơn vị văn hóa. Tóm lại, về cơ bản, thuật ngữ thiết chế có 2 cách hiểu như sau: Thứ nhất: Thiết chế đồng nghĩa với thể chế: đó là những luật lệ, qui định chung cho toàn xã hội, hoặc một nhóm cộng đồng xã hội cụ thể. Thứ hai: Thiết chế để nói về những cơ quan, đơn vị.
- Thiết chế văn hóa Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam: “Thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hoá hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hoá chưa đủ để gọi là thiết chế văn hoá” [27, tr. Ngoài ra, theo Quyết định số 2164/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai đoạn 2013 - 2020, định hướng đến năm 2030 thì hệ thống thiết chế văn hóa bao gồm: các Nhà văn hóa, Trung tâm văn hóa thể thao, Nhà Thiếu nhi, Cung Văn hóa lao động… Như vậy, thiết chế văn hóa được hiểu các cơ quan văn hóa hoạt động thường xuyên nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa của con người. Từ khái niệm trên cho thấy, để một thiết chế xã hội được gọi là thiết chế văn hóa phải thỏa mãn các điều kiện cơ bản sau: 14 + Đó phải là thiết chế phục vụ đời sống văn hóa tinh thần. + Phải có hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ của quần chúng; + Có bộ máy tổ chức.
Nghĩa là phải có nguồn nhân lực với một mô hình quản lý nhất định để vận hành, xây dựng các chương trình hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa. + Có hệ thống biến pháp hoạt động. Nghĩa là thiết chế đó phải được vận hành bằng những phương thức phù với vai trò, vị trí và đặc điểm xã hội của công chúng hưởng thụ. + Phải có kinh phí hoạt động.
Kinh phí đó có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó, kinh phí từ ngân sách nhà nước giữ vai trò quan trọng đối với các thiết chế văn hóa ở Việt Nam. Tuy nhiên, khái niệm trên chưa thể hiện đầy đủ những đặc thù riêng có của hệ thống thiết chế văn hóa ở Việt Nam. Bởi trên thực tế, thiết chế văn hóa ở Việt Nam như hệ thống Trung tâm Văn hóa – Thể thao các cấp; Nhà Văn hóa – Khu thể thao thôn,… vừa thể hiện chức năng là một thiết chế văn hóa, nhưng đồng thời là thiết chế thể thao, thiết chế chính trị xã hội, và ở một góc độ nhất định còn có thể xem đó là một thiết chế kinh tế - khả năng tạo nên doanh thu về tài chính. Về mặt phân loại, thiết chế văn hóa là một dạng thiết chế tinh thần, mà nhiệm vụ chính của nó là góp phần đáp ứng những nhu cầu văn hóa, nghệ thuật của quần chúng nhân dân.
Về bản chất, các thiết chế văn hóa luôn gắn liền với bản chất chính trị xã hội của mỗi chế độ, và thực hiện chức năng truyền tải văn hoá chính thống của nhà nước đến mọi tầng lớp nhân dân, đồng thời tổ chức những hoạt động văn hoá phù hợp với yêu cầu tư tưởng, với chuẩn mực đạo đức, lối sống, nếp sống của chế độ, thời đại đó. Nhà Thiếu nhi Trong hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở, Nhà Thiếu nhi có vai trò quan trọng đem lại hiệu quả thiết thực trong việc xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng. Là cơ sở giáo dục của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Nhà Thiếu nhi có thêm chức năng trở thành trung tâm hoạt động của Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh. Nhà Thiếu nhi nằm trong hệ thống giáo dục của Nhà nước, do Nhà nước thành lập và giao cho Đoàn thanh niên quản lý.
Vì thế, Nhà Thiếu nhi cùng với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục của Đảng cộng sản Việt Nam nhằm giúp cho thiếu nhi mở rộng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, bồi dưỡng tình cảm tập thể. Nhà Thiếu nhi là cơ quan giáo dục ngoài nhà trường, là cơ sở của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội đồng Đội thiếu niên, có nhiệm vụ cùng nhà trường, Đội thiếu niên giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức, củng cố phát triển kiến thức, giáo dục lao động cho thiếu nhi; là trung tâm tổ chức các hoạt động quần chúng, hướng dẫn phương pháp và thực hiện phát triển toàn diện năng khiếu, trí sáng tạo, tích cực hoạt động xã hội của thiếu nhi. Nhà Thiếu nhi có tính hướng nghiệp, tổ chức vui chơi, nghỉ ngơi, tăng cường sức khỏe cho thiếu nhi [3, Tr. Do đó, vị trí của Nhà Thiếu nhi nằm trong hệ thống giáo dục của Nhà nước, do Nhà nước đầu tư giao cho Đoàn thanh niên quản lý, nhằm tăng cường công tác giáo dục cộng sản cho thế hệ trẻ theo 5 điều Bác Hồ dạy: 1.
Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào. Học tập tốt, lao động tốt. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt. Giữ gìn vệ sinh thật tốt.
Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm. Quản lý hoạt động Nhà Thiếu nhi - Khái niệm quản lý Trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó. Trong từ điển tiếng Việt, khái niệm quản lý được hiểu: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [58, Tr. Quản lý là một Khoa học và nghệ thuật vì nó tuân thủ chặt chẽ các thao tác hợp quy luật, hơn thế nữa đòi hỏi phải có kinh nghiệm, có tầm nhìn, dự báo tương lai, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để có thể xử lý tốt các mối quan hệ, đưa đến hiệu quả tối ưu.
Từ những ý chung nhất của các định nghĩa về quản lý: Quản lý là sự tác động có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản ly nhằm đạt mục tiêu đã đề ra. Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý.
Đặc biệt kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý càng phong phú. Theo các học giả trong Từ điển bách Khoa Việt Nam (tập 4): Quản lý là chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc giới khác (sinh học, kinh tế, xã hội), bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó. Có quản lý kỹ thuật, quản lý xã hội, quản lý các đối tượng khác [27, tr.